Điểm chung của bệnh lý này là do sự suy yếu lỗ hoành thực quản đưa đến:

* Có sự trượt ít nhiều quan trọng của tâm vị qua lổ hoành thực quản.

* Nguy cơ có trào ngược DDTQ (bất thường vị trí phát triển)

* Nguy cơ có viêm thực quản dịch vị

I/ Lâm sàng:

- Triệu chứng lâm sàng thay đổi, được chẩn đoán ở trẻ nhỏ

- Biểu hiện tiêu hóa với dạng ợ, nôn ói thường xuyên và chậm phát triển thể chất.

- Và dấu hiệu chứng tỏ biến chứng nặng như: ói ra máu do viêm thực quản dịch vị và khó nuốt do hẹp.

- Biểu hiện hô hấp dạng có cơn ngưng thở, cơn tím táivà viêm phế quản phổi lập đi lập lại.

- Biểu hiện về máu: thiếu máu( thiếu máu nhược sắc).

 II/ Chẩn đoán hình ảnh:

     1. Chụp thực quản dạ dày cản quang ( TOGD): chủ yếu đánh giá hình thái cơ thể học của vùng tâm phình vị: chụp hình thẳng và chếch trước (P) (OAD) với các thì chụp lớp mõng, đối quang kép hay đầy thuốc cản quang.

      Cần khảo sát “động” (dynamic) để chẩn đoán trào ngược , thoát vị thoáng qua, nhu động thực quản.

      Khảo sát khung tá tràng để tìm bất thường kết hợp.

       2. Siêu âm:

- Khảo sát thực quản đoạn bụng (chiều dài TQĐB # 20 – 30mm) và sự  tương quan với dạ dày.

- Hình ảnh trào ngược dạ dày thực quản ( RGO)  có giá trị khi có RGO > 3lần trong 10 phút.

- Khảo sát toàn ổ bụng để tìm bất thường kết hợp

      3. Các khảo sát khác:

- Đo độ pH thực quản trong 24 giờ: xác định có RGO, nhu động thực quản.

- Nội soi: Đánh giá tổn thương thực quản có viêm hoặc hẹp thực quản không. Nhưng khó đánh giá chính xác vị trí tâm vị.   

III. Hình dạng cơ thể học x quang:

       1. Bất thường vị trí tối thiểu:

* Thường gặp ở trẻ nhủ nhi, nguy cơ có trào ngược dạ dày thực quản.

* Các dạng gồm:

- Nở rộng tâm vị: Gốc His mỡ rộng và xoá mờ nếp thực quản.

- Tâm vị di động: Dấu mỏ chimhay dạng nón do sự trượt lên cao của tâm vị và các nếp dạ dày có thể thấy được vùng trên hoành.

- Thoát vị từng đợt: dạng hình dù và dễ dàng trở về dạng bình thường, nhất là khi thay đổi tư thế.

       2. Bất thường vị trí trầm trọng hay thoát vị hoành rõ qua khe thực quản:

Hiếm gặp ở trẻ em, vì có nguy cơ trào ngược. Các dạng:

- Thoát vị trượt và không thể rút lại được: Thực quản ngoằn ngoèo, túi khí dạ dày nằm trong lồng ngực, cổ nho thoát vị ít hay nhiều bị xiết lại, trào ngược có thể có nhưng không hằng định,

- Thoát vị bít: do sự cuốn hoặc trượt  lên vào lồng ngựcvùng trung thất, nguy cơ xoắn.Hình ảnh mức khí dịch trung thất dưới (P).

      3. Tính trầm trọng của trào ngược: được đánh giá:

            a. Theo tầm quan trọng và kéo dài của trào ngược

  Thoát vị hoành qua khe thực quản

- Trào ngược ít, dưới đoạn ngang carena và thoát dịch trở lại nhanh.

- Trào ngược nhiều, kéo dài, tần suất thường xuyên kèm hay không với viêm phổi hít.

        b. Theo các hình ảnh của viêm thực quản a xit: Các dấu hiệu của viêm thực quản dịch vị

* Dày nếp niêm mạc

* Nhu động bất thường đoạn cuối thực quản kèm co thắt.

* Loét

        c. Hẹp sau viêmtrở nên rất hiếm: trãi dài 1/3 dưới thực quản và dãn  đoạn  trên  hẹp.

Thoát vị qua khe thực quản kèm trào ngược trầm trọng.

IV./ Phương pháp thăm dò khác:

            1. Siêu âm: phương tiện chẩn đoán nhanh, tiện lợi để chẩn đoán hình thái học của thực quản đoạn bụng, tính chất của trào ngược , số lần trào ngược và nhất là để khảo sát bất thường trong ổ bụng đi kèm.

            2. Đo độ pH trong thực quản và xạ hình thực quản: chẩn đoán chính xác bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản, nhưng không khảo sát được hình thái của đường tiêu hoá.

            3. Nội soi dạ dày thực quản:

            Phượng tiện chẩn đoán chắc chắn nhất các tổn thương tại thực quản, nhất là viêm thực quản, nhưng khó đánh giá chính xác vị trí của tâm vị.

CĐHA Nhi khoa                     Bs Trương hiếu Nghĩa