Nhi khoa

Tin mới

  • BỆNH LÝ TAI MŨI HỌNG THƯỜNG GẶP TRẺ EM. Hầu như bệnh tai mũi họng ở trẻ em Việt Nam xãy ra quanh năm, nhất là trong nhưng giai đoạn chuyển tiếp sang mùa mưa hoặc trời trở nên ...
    Được đăng 19:12, 13 thg 7, 2015 bởi My Lien
  • CẮT DA QUY ĐẦU Da quy đầu là một cấu trúc bao bọc bên ngoài cơ quan sinh dục nam. Ðây là nếp gấp da trên phần cuối dương vật. Mặt trong lớp da ...
    Được đăng 18:30, 12 thg 3, 2015 bởi Hieu Nghia
  • Chẩn đoán và phát triển của một khuyết tật tim Chẩn đoán chính xác của một khuyết tật tim đòi hỏi đối đầu của lịch sử (lịch sử của con), khám lâm sàng và xét nghiệm bổ sung khác nhau ...
    Được đăng 17:14, 26 thg 2, 2015 bởi My Lien
  • Đau bụng ở trẻ em Tổng quanĐau bụng là nguyên nhân thường gặp nhất mà cha mẹ mang trẻ tới khám. Nguyên nhân gây đau bụng ở trẻ có thể từ không quan trọng ...
    Được đăng 18:41, 29 thg 5, 2014 bởi My Lien
  • TIỂU DẦM (ENURESIS) TIỂU DẦM LÀ GÌ ?Tiểu dầm ( đái dầm ) được định nghĩa như là tiểu không kiểm soát trong giấc ngủ. Ở trẻ em, bàng quang là một cơ quan có ...
    Được đăng 19:54, 25 thg 5, 2014 bởi My Lien
  • THỰC PHẨM GIÚP "ĐÁNH BAY" NỖI LO BỆNH SỞI Ở TRẺ Trong khi Bộ Y tế đánh giá dịch sởi xảy ra quy mô nhỏ thì tại các bệnh viện, bác sĩ vẫn quay cuồng đối phó với sởi bởi lượng ...
    Được đăng 20:26, 11 thg 5, 2014 bởi My Lien
  • Tiêm phòng lao cho trẻ và những vấn đề mẹ cần biết Tiêm phòng là một trong những cách phòng bệnh hiệu quả nhất cho trẻ để tránh được các bệnh tật. Nhưng trước khi đưa con đi tiêm phòng các mẹ ...
    Được đăng 20:59, 14 thg 4, 2014 bởi My Lien
  • Dấu hiệu báo động mắt của bé có vấn đề Mắt của em bé mới sinh cần một thời gian để có thể thích nghi với môi trường mới vì vậy ban đầu mắt bé sẽ không nhìn hoặc hoạt ...
    Được đăng 20:55, 14 thg 4, 2014 bởi My Lien
  • 10 điều mẹ nào cũng phải biết khi cho con uống thuốc Vài lời khuyên sau đây giúp các mẹ trở thành những bác sĩ thông thái nhất trong việc cho con uống thuốc.Khi cho con uống thuốc, đừng nghĩ "các ...
    Được đăng 20:53, 14 thg 4, 2014 bởi My Lien
Hiển thị bài đăng 1 - 9trong tổng số 9. Xem nội dung khác »

BỆNH LÝ TAI MŨI HỌNG THƯỜNG GẶP TRẺ EM.

đăng 19:12, 13 thg 7, 2015 bởi My Lien   [ đã cập nhật 19:12, 13 thg 7, 2015 ]

Hầu như bệnh tai mũi họng ở trẻ em Việt Nam xãy ra quanh năm, nhất là trong nhưng giai đoạn chuyển tiếp sang mùa mưa hoặc trời trở nên xe lạnh. Bệnh xãy ra quanh năm một phần do điều trị kéo dài không khỏi, lạm dụng kháng sinh quá nhiều, không được tư vấn vệ sinh mũi họng tối thiểu, môi trường càng ngày càng bị ô nhiễm nặng nề, kể cả các em phải “hút thuốc lá thụ động”. 

BỆNH LÝ TAI MŨI HỌNG THƯỜNG GẶP TRẺ EM.


CẮT DA QUY ĐẦU

đăng 18:30, 12 thg 3, 2015 bởi Hieu Nghia

Da quy đầu là một cấu trúc bao bọc bên ngoài cơ quan sinh dục nam. Ðây là nếp gấp da trên phần cuối dương vật. Mặt trong lớp da này có những tuyến tiết ra chất nhờn mà khi tích tụ sẽ tạo ra một lớp bựa. Ở trẻ sơ sinh hẹp da quy đầu là một tình trạng sinh lý bình thường do sự dính tự nhiên của da quy đầu và quy đầu.
Khi trẻ lên 3 - 4 tuổi, dương vật bắt đầu phát triển, chất bựa sinh dục tăng, từ từ tách quy đầu ra khỏi da quy đầu, thêm vào đó sự cương dương vật không thường xuyên cũng giúp quy đầu tách ra khỏi da quy đầu một cách hòan toàn. Do vậy 90% trẻ em sau 3 tuổi có thể tụt da quy đầu dễ dàng. Những cố gắng tụt sớm da quy đầu nên tránh do hiện tượng đau, chảy máu, có thể xảy ra sự dính lại của quy đầu vào da quy đầu và sự hình thành sẹo ở da quy đầu có thể gây hẹp da quy đầu thứ phát.

Xem thêm trên file đính kèm 

Chẩn đoán và phát triển của một khuyết tật tim

đăng 17:12, 26 thg 2, 2015 bởi My Lien   [ đã cập nhật 17:14, 26 thg 2, 2015 ]

Chẩn đoán chính xác của một khuyết tật tim đòi hỏi đối đầu của lịch sử (lịch sử của con), khám lâm sàng và xét nghiệm bổ sung khác nhau. Những đánh giá này sẽ tùy thuộc vào dị tật, thông tin khác nhau nhưng cần thiết để làm rõ các phương pháp trị liệu. 
Các chẩn đoán là hiện nay nhiều hơn và tinh vi hơn và ít xâm lấn và là một sự cám dỗ lớn cho học viên để sử dụng ngay lập tức với một phương pháp tạo ảnh hiệu quả.

Xem thêm trên file đính kèm

Đau bụng ở trẻ em

đăng 18:41, 29 thg 5, 2014 bởi My Lien   [ đã cập nhật 18:41, 29 thg 5, 2014 ]

Tổng quan
Đau bụng là nguyên nhân thường gặp nhất mà cha mẹ mang trẻ tới khám. Nguyên nhân gây đau bụng ở trẻ có thể từ không quan trọng đến đe dọa tính mạng. Trẻ có thể có những than phiền khác nhau. Tuy nhiên đau bụng ở trẻ thường cải thiện nhanh. Cha mẹ thường gặp khó khăn trong việc quyết định có nên đưa trẻ đi cấp cứu hay không.

Nguyên nhân
    1. Nhiễm trùng: Nhiễm trùng đường tiêu hóa do vi trùng hay virus. Nhiễm virus có khuynh hướng khỏi bịnh nhanh, do vi trùng cần sử dụng kháng sinh.
    2. Do thức ăn: Ngộ độc thức ăn, dị ứng thức ăn, ăn quá nhiều hoặc thức ăn gây sình hơi nhiều
    3. Ngộ độc: Có thể đơn giản chỉ là nuốt xà phòng cho đến những trường hợp nguy hiểm hơn như nuốt cục bi sắt hay uống thuốc quá liều (như thuốc hạ sốt  paracetamol)
    4. Những vấn đề ngoại khoa: Viêm ruột thừa, tắc ruột, lồng ruột…
    5. Nguyên nhân nội khoa: Nguyên nhân từ đường tiêu hóa hoặc ngoài đường tiêu hóa ( trào ngược dạ dày thực quản, nhiễm trùng tiểu, viêm phổi, viêm màng não,…)

Triệu chứng
Cha mẹ có thể chú ý tình trạng đau bụng ở trẻ: Trẻ nhũ nhi hay trẻ đang tập đi có thể khóc, nhăn mặt, gập người. Trẻ lớn hơn thường than đau . Trẻ tuổi teen có thể không muốn mô tả triệu chứng đau nhưng cha mẹ nên cố gắng hỏi xem trẻ cảm thấy như thế nào.

Cha mẹ cần để ý
    1. Thời gian đau: Điều quan trọng nên nhớ là những trường hợp đau bụng đơn giản thì không kéo dài ( hầu hết trong chúng ta ai cũng một lần đau bụng nhưng không kéo dài quá 24 giờ). Nếu đau bụng kéo dài trên 24 giờ cần đưa trẻ đi khám.
    2. Vị trí đau: Hầu hết các trường hợp đau không nguy hiểm vị trí đau ở giữa bụng (quanh rốn). Nếu đau ở các vùng khác thì cần phải quan tâm hơn đặc biệt là đau ở vùng thấp hơn bên phải có thể là viêm ruột thừa.
    3. Biểu hiện của trẻ: Trông trẻ có vẻ mệt nên đưa trẻ đi khám ngay. Thường thì cha mẹ có thể thấy rõ điều này: Trẻ tái xanh, đổ mồ hôi, lừ đừ hay bơ phờ. Cần để ý đến trẻ khi trẻ không chơi, không ăn uống trong vài giờ.
    4. Nôn ói: Trẻ có thể nôn tất cả mọi thứ cùng với đau bụng. Tuy nhiên, nôn không phải là dấu hiệu chỉ điểm cho nguyên nhân nguy hiểm. Cũng như đau bụng, nôn chỉ xảy ra trong thời gian ngắn. Nếu trẻ nôn ói kéo dài hơn 24 giờ cần phải cho trẻ đi khám
    5. Tính chất của dịch ói: Dịch ói có màu xanh, vàng hay có chứa máu dù lứa tuổi nào cũng phải cho trẻ đi khám ngay
    6. Tiêu chảy: Rất thường đi kèm với đau bụng. Thông thường là do virus và kéo dài không quá 72 giờ. Nếu phân có lẫn máu, cần đưa trẻ đi khám ngay
    7. Sốt: Sốt không phải là dấu hiệu chỉ điểm cho tình trạng nguy hiểm. Ngược lại, có những trường hợp đau bụng không kèm sốt lại có nguyên nhân cần cấp cứu 
    8. Đau vùng bẹn: Trẻ trai có thể mô tả tình trạng đau ở vùng này. Nguyên nhân có thể do xoắn tinh hoàn làm máu nuôi không thể tới được. Nếu được phát hiện và điều trị kịp thời, xoắn tinh hoàn có thể được giải quyết nhanh chóng. Xoắn tinh hoàn là một tình trạng cấp cứu ngoại khoa, cần đưa trẻ đi khám ngay. Tuy nhiên trẻ có thể cảm thấy xấu hổ khi đau ở vùng này, cha mẹ cũng cần lưu ý để hỏi tình trạng đau ở trẻ.
    9. Vấn đề tiểu tiện: Có thể trẻ sẽ thấy đau hay thường xuyên đi tiểu, gợi ý tình trạng nhiễm trùng đường tiểu
    10. Phát ban: Nếu đau bụng có kèm phát ban, cha mẹ nên đưa trẻ đi kkám vì có thể là nguyên nhân nguy hiểm
    
                                                          

Xét nghiệm
Đau bụng ở trẻ do nhiều nguyên nhân, ảnh hưởng bởi nhiều cơ quan khác nhau. Mỗi nguyên nhân cần các xét nghiệm chẩn đoán khác nhau. Các bác sĩ chỉ định xét nghiệm dựa trên bịnh sử, thăm khám đánh giá trẻ, có thể thăm khám trực tràng để phát hiện có máu hay không. Các xét nghiệm có thể bao gồm:
    1. Xét nghiệm máu: 
        - Công thức máu, 
        - Cấy máu ( khi nghi ngờ có nhiễm trùng nặng )
        - Chức năng gan
        - Amylase / lipase máu
        - Nồng độ chì ( khi nghi ngộ độc chì )
    2. Nước tiểu: Tổng phân tích nước tiểu, cấy nước tiểu ( khi cần )
    3. Phân: Tìm máu trong phân, vi trùng , ký sinh trùng
    4. X-quang bụng
    5. Siêu âm bụng ( chỉ định đầu tiên )
    6. CT Scan bụng ( trường hợp đặc biệt )

Chăm sóc trẻ tại nhà bao gồm
    1. Nghỉ ngơi: Tư thế nằm sấp có thể giảm đau nếu do chướng hơi 
    2. Chế độ ăn: Trẻ có thể khó ăn các thức ăn đặc nhưng phải duy trì dịch cho trẻ
    3. Dịch: Tránh sử dụng sữa, nước ép trái cây, cà phê, nước ngọt vì khó tiêu hóa. Nên cho trẻ uống các loại dịch theo chỉ định của bác sĩ như Oresol, nước gừng, nước soup
    4. Thức ăn đặc: Khi trẻ ổn định có thể cho trẻ trở lại các thức ăn hàng ngày môt cách từ từ
    5. Thuốc: Paracetamol để hạ sốt cho trẻ, tránh sử dụng aspirin, không sử dụng kháng sinh nếu chưa có sự đồng ý của bác sĩ

Điều trị
Trẻ có thể được điều trị nội hoặc phẫu thuật tùy nguyên nhân gây đau bụng.

Kết luận
Tiến triển của đau bụng ở trẻ tùy thuộc rất khác nhau vào nguyên nhân. Nói chung, nếu được chẩn đoán và điều trị sớm tiên lượng sẽ tốt. Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, có thể sẽ nguy hiểm đến tính mạng nên cần đi khám bác sĩ nếu đau bụng > 1 giờ hoặc kèm theo sốt và nôn ói nhiều.
Bs Trương Hiếu Nghĩa

TIỂU DẦM (ENURESIS)

đăng 19:53, 25 thg 5, 2014 bởi My Lien   [ đã cập nhật 19:54, 25 thg 5, 2014 ]

TIỂU DẦM LÀ GÌ ?
Tiểu dầm ( đái dầm ) được định nghĩa như là tiểu không kiểm soát trong giấc ngủ. Ở trẻ em, bàng quang là một cơ quan có tính tự động hoặc phản xạ. Đi tiểu qua ngày và đêm thường xảy ra một cách tự nhiên giữa các lứa tuổi 2-5 khi bàng quang bị căng đầy. Đái dầm xảy ra trong khoảng 12-15% dưới 6 tuổi, 5% dưới 10 tuổi và thường hết sau tuổi 15. Tuy nhiên có khoảng 1% trẻ em sẽ có đái dầm sau tuối 15 và một ít cả ở người trưởng thành.

Bình thường sự kiểm soát đi tiểu phụ thuộc vào cả hai hệ thống thần kinh trung ương và trưởng thành sinh lý bàng quang. Đặc biệt, thần kinh trung ương tác động trên sự chịu đựng, phản xạ hay không phản xạ và ức chế bàng quang. Thần kinh trung ương sản xuất nội tiết tố (hormone) chống lợi tiểu (ADH) cũng làm giảm số lượng tuyệt đối của nước tiểu được sản xuất qua đêm, tạo điều kiện lưu trữ nước tiểu. Vì vậy, đái dầm ban đêm thường được cho là do cho sự chậm trưởng thành sinh lý bình thường của thần kinh trung ương hoặc bàng quang làm rối loạn kiểm soát đi tiểu. Đái dầm tái phát khi có sự xuất hiện trở lại sau 6 tháng hết hoàn toàn. Ngoài ra, đái dầm liên quan đến nhiễm trùng tiểu sẽ gây ra biểu hiện sinh lý bệnh nghiêm trọng hơn. Một số các căn nguyên được nghĩ đến như giấc ngủ sâu bất thường, sốc tâm lý xã hội, hoặc dị ứng. Nguyên nhân di truyền gia đình. Trẻ em có cha hoặc mẹ có tiểu dầm thì khả năng xảy ra khoảng 44%, cả 2 cha mẹ là 77%. 



KHÁM VÀ ĐÁNH GIÁ CHẨN ĐOÁN TIỂU DẦM THẾ NÀO ?
Đánh giá của đái dầm thường bao gồm hỏi tiền sử kỹ lưỡng cũng như khám sức khỏe tổng quát và xét nghiệm nước tiểu, tiền sử gia đình.  
Cần khám kỹ về lâm sàng, siêu âm đánh giá bộ niệu, xét nghiệm nước tiểu, đánh giá tâm sinh lý, sự phát triển thể chất để tìm nguyên nhân thực thể nếu có.

VẤN ĐỀ ĐIỀU TRỊ TIỂU DẦM THẾ NÀO ?
Khi có nguyên nhân thực thể như nhiễm trùng tiểu, bất thường bẩm sinh bộ niệu thì cần phải đều trị tùy theo nguyên nhân.

Nếu không tìm thấy nguyên nhân thực thể thì cần phải đánh giá thật kỹ về hành vi, sinh hoạt ban ngày, giấc ngủ, môi trường xung quanh để có sự tư vấn và điều chỉnh thích hợp. Điều quan trọng là cha mẹ phải hiểu được con cái, hiểu được đái dầm là “ việc ngoài ý muốn ” của bé, tránh la rầy quá đáng đối với bé, thay vào đó là giải thích, động viên bé, tập cho bé đi tiểu trước khi ngủ và đánh thức bé đi tiểu trước những giờ bé tiểu dầm trước đây. Cần phải tránh hù dọa bé, hù dọa sẽ gây chấn thương tâm lý và phát triển tâm sinh lý của bé sau này.

Nếu tất cả các biện pháp trên thất bại thì dùng thuốc đều trị sẽ được thực hiện, nhưng cũng không chắc chắn đáp ứng 100 %. Thuốc Tofranil là một thuốc uống có thể được sử dụng trong các buổi tối để thư giãn bàng quang và giúp giữ cho nước tiểu và đái dầm giảm. thuốc được sử dụng khoảng 6 tuần để xem có hiệu lực hay không. Nếu nó có hiệu quả, chúng ta sẽ tiếp tục một lần nữa trong khoảng 6 tháng và sau đó đánh giá lại và sử dụng cho phù hợp. Nếu không hiệu quả, chúng ta sẽ tăng liều lượng. Nếu dùng liều cao mà vẫn không hiệu quả thì chúng ta sẽ phải xem xét điều trị thay thế khác như sử dụng thuốc dạng xịt mũi. 

Thành công điều trị đái dầm ban đêm chính là một quá trình rất phấn khởi cho các em, gia đình và bác sĩ. Nó cải thiện lòng tự trọng và sự tự tin cho phép xã hội hóa ngày càng tăng và trở lại hoạt động ở trẻ em thường xuyên. 

Tóm lại, thành công quản lý của đái dầm ban đêm chính liên quan đến chẩn đoán chính xác, điều trị thành công, và cuối cùng an tâm và kiên nhẫn. Ngày đêm đái dầm, đái dầm hoặc đái dầm thứ cấp liên quan đến nhiễm trùng đường niệu hoặc chứng thần kinh là triệu chứng học khác tiếp tục đánh giá. 

Bs Trương Hiếu Nghĩa

THỰC PHẨM GIÚP "ĐÁNH BAY" NỖI LO BỆNH SỞI Ở TRẺ

đăng 18:51, 18 thg 4, 2014 bởi My Lien   [ đã cập nhật 20:26, 11 thg 5, 2014 ]

Trong khi Bộ Y tế đánh giá dịch sởi xảy ra quy mô nhỏ thì tại các bệnh viện, bác sĩ vẫn quay cuồng đối phó với sởi bởi lượng bệnh nhân biến chứng nặng do sởi nhập viện.
Bệnh sởi có tốc độ lan rất nhanh, khoảng 90% số trẻ tiếp xúc với trẻ mắc sởi sẽ bị lây bệnh. Những trẻ có nguy cơ mắc sởi cao là những trẻ có thể trạng yếu, trẻ sinh non, không được tiêm phòng vắcxin phòng ngừa đầy đủ. Người lớn cũng có thể bị sởi nếu cơ thể không đủ miễn dịch với bệnh.

Để hạn chế bệnh lây lan, bác sỹ khuyến cáo nên hạn chế vào thăm người bệnh, nếu ra về cần khử trùng bằng cách tắm giặt sạch sẽ, thay quần áo mặc vào viện, nhỏ nước muối sinh lý vào họng, mũi, … để sát khuẩn. Virus sởi có thể sống trong môi trường bình thường từ 3-4 giờ đồng hồ.

Năm nay, dịch sởi diễn biến khá đặc biệt, nhất là có nhiều ca sởi gây biến chứng viêm phổi rất nặng. Khi bệnh nhi vừa mới mọc ban, nhiều trẻ chưa xác định có bị sởi hay không đã biến chứng viêm phổi. Dù các bác sĩ đã dùng kháng sinh ngay từ đầu để điều trị cho trẻ mắc sởi nhưng trẻ vẫn tử vong.

Với những thực phẩm "vàng" dưới đây sẽ giúp bé nhà bạn "hạ gục" nỗi lo bệnh sởi xâm nhập cơ thể.

Sữa chua

Probiotic, một loại vi khuẩn sống có tác dụng tuyệt vời trong việc tăng cường hệ miễn dịch và ngăn chặn sự xâm nhập của virus, được tìm thấy trong sữa chua. Mặc dù nhiều loại thực phẩm khác cũng có probiotic nhưng sữa chua là được coi như nguồn probiotic dồi dào số 1 cho trẻ nhỏ.

Một nghiên cứu của trường Đại học Viên cho biết mỗi ngày trẻ ăn 1 hộp sữa chua có tác dụng tương đương với tiêm một ống thuốc tăng sức đề kháng. Cũng có bằng chứng từ các chuyên gia Thuỵ Điển cho thấy những bé được ăn sữa chua có chứa probiotic hàng ngày có số ngày ốm ít hơn 33% so với những bé khác. Chính vì vậy, mẹ đừng quên cho con ăn sữa chua để phòng tránh dịch sởi.

Bé từ 6 tháng tuổi trở lên có thể ăn được sữa chua mỗi ngày với “tiêu chuẩn” như sau:

- 6-10 tháng: 50g/ngày.

- 1-2 tuổi: 80g/ngày.

- Trên 2 tuổi: 100g/ngày.

Yến mạch

Theo một chuyên gia người Nauy, yến mạch có chứa beta-glucan, một loại sợi có khả năng kháng khuẩn và chống oxy hoá. Khi động vật ăn hợp chất này, chúng ít có khả năng bị cúm, herpes và nhiều bệnh lây nhiễm khác. Yến mạch không những có khả năng tăng cường hệ miễn dịch, đẩy nhanh tốc độ khỏi bệnh và còn có thể giúp thuốc kháng sinh phát huy tác dụng tốt hơn. Mẹ nên cho trẻ ăn yến mạch khoảng 3 lần/ tuần xen kẽ với việc ăn cơm gạo và các loại thực phẩm tinh bột khác.










Canh gà

Thịt gà khi nấu thành canh sẽ sản sinh ra một loại chất có tác dụng giúp trẻ tăng sức đề kháng.

Một nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trường Đại học Nebraska phát hiện ra rằng chất Cysteine ​​acid amin sản sinh từ thịt gà trong khi nấu canh có tác dụng hóa học tương tự như acetylcystein – một chất có trong thuốc giúp ngăn chặn sự di cư của các tế bào viêm. Bổ sung thêm gia vị tự nhiên chẳng hạn như hành và tỏi vào món canh gà, súp gà cho trẻ có thể giúp tăng sức mạnh của hệ miễn dịch cho bé.







Sữa tươi
Sữa tươi cung cấp lượng dinh dưỡng, vitamin, và khoáng chất dồi dào cho cơ thể. Những trẻ em được uống sữa tươi thường xuyên thì sẽ có sức khoẻ rất tốt, hệ miễn dịch được tăng cường, đồng thời nồng độ vitamin D trong máu cũng cao hơn so với các trẻ em khác.

Các nghiên cứu cũng khẳng định tỷ lệ đạm whey và casein trong sữa tươi có thể gây rối loạn tiêu hóa ở trẻ dưới 12 tháng tuổi nên sữa tươi được khuyến cáo chỉ nên dùng cho trẻ trên 12 tháng tuổi. (Tỉ lệ whey:casein ở sữa mẹ là 60:40. Và tỉ lên này được coi là tỉ lệ tối ưu, giúp trẻ hấp thu tốt nhất và cũng là tiêu chuẩn đối với các sản phẩm sữa công thức dành cho trẻ nhũ nhi. Vì thế đối với trẻ dưới 12 tháng tuổi các mẹ không nên cho trẻ uống sữa tươi).
Cho nên, mẹ hãy tập cho trẻ thói quen uống sữa tươi mỗi ngày để trẻ có thể phát triển khỏe mạnh nhé!






Thịt bò


Thịt bò có chứa rất nhiều kẽm - khoáng chất quan trọng cho hệ miễn dịch của trẻ. Thiếu kẽm là một trong những thiếu hụt dinh dưỡng phổ biến ở trẻ nhỏ. Và thật không may, bởi vì thiếu hụt kẽm còn có thể làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh.

Kẽm trong chế độ ăn uống của trẻ là rất quan trọng đối với sự phát triển của các tế bào bạch huyết - tế bào của hệ miễn dịch giúp nhận ra và tiêu diệt vi khuẩn xâm nhập, virus và các tác nhân "xấu" khác. Để bổ sung kẽm cho trẻ, mẹ nên ưu tiên cho con ăn thịt bò từ 3-4 bữa/tuần.







Củ năng
Theo Đông y, củ năng thường được dùng trong các trường hợp bệnh nhiệt, sốt cao mất nước, vàng da, đi tiểu ra máu do huyết nhiệt, đại tiện ra máu do trĩ hoặc lỵ, sỏi đường tiết niệu, đau mắt đỏ, viêm phế quản, viêm họng, ho sốt do phế táo, đàm 
nhiệt, mụn nhọt, viêm loét da niêm mạc… Người ta thường ép củ năng, lấy nước dùng làm thuốc hạ nhiệt, trừ ho, tiêu đàm, rất tốt cho trẻ em bị sởi sốt cao, ho, khát nước, người bứt rứt.

- Ở trẻ mới mắc bệnh sởi hoặc sởi không phát được, có thể sử dụng 100ml nước ép củ năng phối hợp với hạt rau mùi 10-12g, sắc uống, có hiệu quả giải được nhiệt độc, hạ sốt, trừ ho.

- Hoặc dùng củ năng 500g, gọt bỏ vỏ ngoài, rửa sạch, xắt miếng nhỏ rồi ép lấy nước, lọc qua vải sạch rồi hòa với đường phèn vừa đủ, chia uống vài lần trong ngày. Dùng cho trẻ bị sởi, nóng sốt, ho, các bệnh viêm nhiễm cấp tính đường hô hấp trên như viêm họng, viêm amidan, viêm phế quản...

- Hoặc dùng củ năng 200g, củ sen tươi 200g, trái lê 200g. Tất cả rửa thật sạch, xắt lát rồi ép lấy nước, lọc qua vải sạch, hòa với 15ml mật ong để uống. Dùng uống để phòng chống một số bệnh như viêm đường tiết niệu, viêm họng, viêm phế quản, trĩ, sốt cao mất nước...

- Trường hợp bệnh nhiễm trùng có sốt cao, khát nước nhưng không có mồ hôi: Dùng củ năng 200g, lê 1 trái, rễ lau 100g, củ cải đường 50g, củ sen tươi 100g. Tất cả rửa thật sạch, ép lấy nước uống để hỗ trợ trị liệu có hiệu quả.

- Trường hợp trẻ bị sởi, sốt cao li bì, rối loạn tiêu hóa: Dùng củ năng 200g, củ khoai mài (hoài sơn) 25g, hạt sen 25g, hạt bo bo (ý dĩ) 25g, rễ đinh lăng 15g, long nhãn nhục 15g. Tất cả rửa sạch, nấu với 1 lít nước, sắc còn 650ml, để nguội, chia 2-3 lần uống trong ngày. Tác dụng thanh nhiệt sinh tân dịch, lương huyết giải độc, hạ sốt, hóa đàm, trừ ho, tiêu thực tích, mát gan, sáng mắt...


Ngoài ra, món chè củ năng, hạt sen cũng rất tốt cho trẻ bệnh sởi.

Lưu ý, củ năng có tính mát nên không dùng cho những người có thể chất hàn hoặc bệnh lý thuộc thể hư hàn, có các triệu chứng như sợ lạnh, tay chân lạnh, dễ bị cảm lạnh, ăn kém tiêu, dễ đau bụng khi ăn đồ sống lạnh, đại tiện phân lỏng hoặc nát...









Mía lau

Mía lau rất tốt cho trẻ em bị sởi, phát sốt, làm thương tổn đến tân dịch, khát nước, tâm phiền, nôn ói, ho do phổi khô ráo, đại tiện táo kết, hầu họng sưng đau.

- Mía lau nấu củ năng, hạt sen: Rất có ích cho trẻ em bị sởi, ban không phát được, sốt cao, mất ngủ, người bứt rứt, khát nước.

Củ năng 200g, hạt sen 50g, 1 bó mía lau, lá dứa 10g, rễ tranh 20g, râu bắp 20g, đường cát 50g. Củ năng gọt vỏ, rửa sạch, xắt làm 4 hoặc 5 phần. Bó mía lau, lá dứa, rễ tranh, râu bắp rửa sạch. Tất cả cho vào nồi đun sôi với 2 lít nước. Khi nước sôi, cho đường vào khuấy tan. Đun sôi lại, tắt bếp, lọc bỏ bã, lấy nước cho vào nồi, cho củ năng vào rồi nấu chín.

Nếm lại thấy có vị ngọt dịu, thanh là được. Hạt sen ngâm mềm, cắt bỏ đầu, bỏ tim. Đem luộc hoặc hấp chín. Múc nước mía lau, củ năng và hạt sen vào ly, dùng khi khát nước.


Bài viết: nguoiduatin.vn
Hình ảnh: internet

Tiêm phòng lao cho trẻ và những vấn đề mẹ cần biết

đăng 20:57, 14 thg 4, 2014 bởi My Lien   [ đã cập nhật 20:59, 14 thg 4, 2014 ]

Tiêm phòng là một trong những cách phòng bệnh hiệu quả nhất cho trẻ để tránh được các bệnh tật. Nhưng trước khi đưa con đi tiêm phòng các mẹ cần biết trong những trường hợp nào không nên đưa trẻ đi tiêm

Bệnh nhi bị hoại tử các ngón tay không liên quan đến vắc xin 

Vừa qua, trường hợp bé Khuất Tiến Minh tiêm thuốc phòng lao tại trạm y tế xã được ba ngày, cánh tay trái của bé bị tím tái, các ngón tay có dấu hiệu bị hoại tử đã gây xôn xao dư luận trong các ngày qua. 

Chị Nguyễn Thị Sen (SN 1987 ở xã Hợp Thịnh, Kỳ Sơn Hòa Bình) đưa con trai là bé Khuất Tiến Minh 18 ngày tuổi (sinh ngày 16/2/2014) lên trạm y tế xã để tiêm phòng lao. Sau khi tiêm về được một ngày, bé Minh có biểu hiện khó chịu, bỏ ăn, quấy khóc suốt đêm. Quá lo lắng, gia đình đưa cháu đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình, cháu được chuyển thẳng vào khoa cấp cứu Bệnh viện Nhi Trung ương.

Theo TS Nguyễn Thị Thu Hà, Phó trưởng Khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, bệnh nhi nhập viện trong tình trạng hôn mê, tím tái, ngừng thở, suy tuần hoàn. Ngay khi thăm khám bác sĩ chẩn đoán bé Minh bị nhiễm khuẩn huyết toàn thân rất nặng nề, phải thở máy, bị rối loạn đông máu nội mạc. 

Tuy nhiên, nguyên nhân của nhiễm khuẩn huyết không phải là do vắc xin, bởi biến chứng tiêm phòng lao không gây biểu hiện lâm sàng như thế mà trẻ thường sốt liên tục, có ổ ápxe tại chỗ tiêm, nặng hơn thì nổi hạch lao... Mà vị trí tiêm vắc xin hoàn toàn bình thường, trong khi bé bị hoại tử ở các ngón tay. Phim chụp Xquang không cho thấy trẻ bị nhiễm lao, trẻ cũng không có biểu hiện của phản ứng sau tiêm vắc xin. Do đó có thể khẳng định bệnh nhi bị hoại tử các ngón tay không liên quan đến vắc xin – bác sĩ Hà cho biết thêm

Một số điều cần biết khi đưa con đi tiêm phòng vắc xin lao

Theo bác sĩ Lê Thị Phương Huệ (Bệnh viện Thanh Nhàn), thời điểm tiêm phòng lao cho trẻ thường trong vòng tháng đầu tiên kể từ khi sinh ra, tiêm càng sớm càng tốt. Mà khi tiêm phòng lao thường tiêm dưới ở da, không tiêm vào mạch máu, không tiêm vào các cơ nên không thể xảy ra các biến chứng như trường hợp trên.

Để tiêm phòng đảm bảo an toàn trước tiên bố mẹ cần biết rõ tình trạng sức khỏe của trẻ trước khi đi tiêm. Nếu trẻ đang có bệnh thì cần khai với bác sĩ để bác sĩ quyết định xem bé có cần hoãn tiêm không. Những trẻ có bệnh mãn tính thì cần tham khảo ý kiến của bác sĩ đang điều trị cho trẻ về việc khi nào có thể tiêm chủng và cơ sở y tế tiêm chủng thích hợp cho trẻ vì những trẻ này có khả năng bị phản ứng phụ nặng hơn trẻ khỏe mạnh, cần tiêm chủng ở nơi có đủ điều kiện cấp cứu. 

Việc trả lời cẩn thận các câu hỏi sàng lọc trước khi tiêm cũng rất quan trọng vì một số tình trạng dị ứng thuốc, thức ăn, dị tật bẩm sinh, các thuốc đang sử dụng hoặc việc truyền máu, globulin miễn dịch là chống chỉ định (không được tiêm) đối với một số vắc-xin.

Không nên tiêm phòng cho trẻ khi trẻ đang sốt, trẻ đang mắc 1 bệnh nhiễm khuẩn cấp tính (viêm phổi, thương hàn, sởi ...), trẻ mới khỏi các bệnh nói trên, còn đang trong thời kỳ hồi sức, trẻ đang bị viêm da mủ, hoặc bệnh chàm ngoài da (eczéma), trẻ sinh non còn quá yếu, quá thiếu cân...

Trước khi tiêm các bà mẹ không nên cho trẻ ăn, bú quá no, tuy nhiên cũng không để trẻ đói để tránh tình trạng trẻ bị hạ đường huyết sau khi tiêm. Cha mẹ nên vệ sinh thân thể cho bé sạch sẽ để hạn chế nhiễm trùng. Khi tiêm phòng, cần cho trẻ mặc trang phục đơn giản để giúp bác sĩ dễ thao tác trong quá trình khám, không mặc quần áo quá bó chặt, ủ ấm quá nhiều…

Khi tiêm, bố mẹ cần lưu ý theo dõi trẻ, sớm phát hiện những điểm bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời. Bố mẹ nên cho trẻ ở lại nơi tiêm chủng ít nhất 30 phút để theo dõi xem trẻ có những biểu hiện dị ứng với thuốc không. Về nhà, tiếp tục theo dõi trẻ trong vòng 24 đến 48 giờ sau tiêm. Nếu trẻ sốt trên 39 độ C, co giật, tím tái, khò khè, khó thở, khóc thét, khóc dai dẳng không dứt, bỏ bú, chỗ tiêm sưng to, tấy đỏ… thì bố mẹ cần đưa ngay trẻ đến bệnh viện hoặc cơ sở y tế gần nhất để được chăm sóc và điều trị.
 
Còn trường hợp nếu sau khi tiêm trẻ sốt nhẹ các mẹ cần lau mát cho trẻ bằng nước ấm và cho trẻ uống thuốc hạ sốt theo đúng hướng dẫn của nhân viên y tế. Nếu có sưng đau tại chỗ tiêm có thể chườm lạnh tại nơi tiêm bằng cách dùng khăn thấm nước lạnh sạch chườm vào chỗ tiêm. Cho trẻ bú mẹ, ăn uống bình thường, uống nước nhiều hơn. 

Các mẹ không xát chanh hoặc đắp bất kỳ loại thuốc nào vào chỗ tiêm vì có thể gây kích thích chỗ tiêm khiến bị sưng, đau và làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn cho vết tiêm. 

Dấu hiệu báo động mắt của bé có vấn đề

đăng 20:55, 14 thg 4, 2014 bởi My Lien   [ đã cập nhật 20:55, 14 thg 4, 2014 ]

Mắt của em bé mới sinh cần một thời gian để có thể thích nghi với môi trường mới vì vậy ban đầu mắt bé sẽ không nhìn hoặc hoạt động theo cách bạn mong đợi.
Điều này là hoàn toàn bình thường trong 3 tháng đầu sau khi bé được sinh ra. Tuy nhiên có những dấu hiệu cho thấy mắt của bé nhất định đang gặp vấn đề. Hãy đến gặp bác sĩ chuyên khoa nhi hoặc mắt ngay khi bạn để ý thấy bé có một trong các dấu hiệu sau

1. Đôi mắt của bé di chuyển không bình thường. Một mắt di chuyển còn mắt kia thì không. Hoặc một mắt không di chuyển giống như mắt còn lại. 

2. Bé đã hơn 1 tháng tuổi nhưng ánh sáng, các vật di chuyển,… không khiến cho bé nhìn theo. 

3. Bé bị mắt nhắm mắt mở.

4. Mắt bé có một điểm bất thường luôn hiện diện trong các tấm hình chụp bé. Không tính đến hiện tượng mắt đỏ gây ra bởi đèn flash, nhưng bạn để ý thấy một hoặc hai bên mắt của bé luôn hiện diện đốm trắng trong mọi bức ảnh


5. Mẹ nhìn thấy có điểm hoặc vùng màu trắng, xám, vàng trong tròng đen của bé. 

6. Một hoặc cả hai mắt của bé sưng phồng lên.

7. Đỏ một hoặc hai bên mắt kéo dài nhiều ngày. 

8. Mắt bé có ghèn mủ ở một hoặc hai bên.

9. Có vẻ bé chảy nhiều nước mắt hơn bình thường.

10. Một hoặc hai bên mí mắt bé tự nhiên sụp xuống.

11. Bé nheo mắt thường xuyên hơn mọi ngày.

12. Bé thường xuyên đưa tay dụi mắt khi đang tỉnh táo (tránh trường hợp mẹ nhầm với lúc bé đang buồn ngủ hoặc mới ngủ dậy).

13. Mắt bé có vẻ nhạy cảm với ánh sáng.

14. Mẹ nhận thấy mắt bé có gì đó khác hơn so với bình thường. Hãy tin vào khả năng quan sát của mình vì ba mẹ chính là những người gặp bé hàng ngày và có thể nhận ra dù là một thay đổi nhỏ của bé.


Đặc biệt, khi bé nhà bạn được 3 tháng, hãy gặp bác sĩ để được tư vấn khi bạn nhận thấy bất kỳ dấu hiệu nào sau đây:

1. Một hoặc hai bên mắt bé lệch vào trong, hoặc ra ngoài hoặc không di chuyển.

2. Bé không nhìn theo đồ chơi khi bạn đưa đồ chơi từ bên này sang bên kia của bé. 

3. Mắt bé có vẻ như “ngọ nguậy” qua lại hoặc lên xuống.

4. Bé thường xuyên nghiêng đầu khi nhìn mọi thứ. 

10 điều mẹ nào cũng phải biết khi cho con uống thuốc

đăng 20:52, 14 thg 4, 2014 bởi My Lien   [ đã cập nhật 20:53, 14 thg 4, 2014 ]

Vài lời khuyên sau đây giúp các mẹ trở thành những bác sĩ thông thái nhất trong việc cho con uống thuốc.
Khi cho con uống thuốc, đừng nghĩ "các bé là người lớn thu nhỏ". Vì thế, điều quan trọng là làm sao để biết lượng thuốc bé uống là đủ, là đúng bệnh và an toàn.

Các mẹ cần tuân thủ tốt 10 điều sau khi cho con uống thuốc

1. Đọc và làm theo chỉ dẫn mỗi lần cho con uống thuốc: Chú ý đặc biệt đến hướng dẫn sử dụng và cảnh báo. Nếu bạn nhận thấy bất kỳ triệu chứng mới hoặc tác dụng phụ không mong muốn từ bé nhà bạn (hoặc thuốc không phát huy tác dụng), cần hỏi ý kiến bác sĩ nhi ngay lập tức.

Cần kiểm tra ngày hết hạn của tất cả các loại thuốc trước khi cho bé uống.

2. Không bao giờ đoán về số lượng thuốc cần dùng: Nửa liều thuốc của người lớn có thể nhiều hơn so với nhu cầu của bé nhà bạn hoặc là chưa đủ liều. Cần đọc kỹ và tuân theo chỉ dẫn trên bao bì.

3. Biết chữ viết tắt cho thìa (tablespoon – tbsp, thường là thìa đi kèm với hộp thuốc) và thìa cafe (teaspoon – tsp). Không nên nhầm lẫn giữa chúng. Bạn cũng nên hiểu chữ viết tắt cho miligam (mg), mililit (mL) và ounce (oz).

4. Tránh tự đổi định lượng: Nếu hướng dẫn ghi là 2 ml nhưng bạn lại dùng thìa để ước lượng thì có thể bạn đang ước lượng sai.
5. Không bao giờ đi ngược lại lời khuyên của bác sĩ.

6. Tránh dùng gấp đôi liều: Thảo luận với bác sĩ khi cho bé dùng hai liều thuốc cùng một lúc để tránh quá liều hoặc gây tương tác không mong muốn.

7. Thực hiện theo khuyến nghị về trọng lượng và độ tuổi: Nếu hướng dẫn ghi không dùng cho bé dưới một độ tuổi (hoặc trọng lượng) nhất định thì bạn nên làm theo. Nếu còn băn khoăn, hãy hỏi bác sĩ.

8. Luôn đậy nắp sau mỗi lần dùng thuốc và bảo quản thuốc đúng theo chỉ dẫn: Hãy đặc biệt cẩn thận với thuốc chứa vitamin vì chúng có thể gây ngộ độc nặng cho bé dưới 3 tuổi.

9. Nhớ cảnh báo “Để thuốc xa tầm tay trẻ em”: Ngày nay, nhiều loại thuốc được thêm hương vị để giấu vị đắng của thuốc. Đó là lý do cần giữ tất cả các loại thuốc ngoài tầm nhìn và tầm tay của bé.

10. Luôn kiểm tra gói thuốc để tránh dấu hiệu giả mạo: Không bao giờ mua hoặc sử dụng thuốc khi gói thuốc bị rách, có vết cắt hoặc có dấu hiệu hư hỏng. Thông báo điều nghi ngờ với bác sĩ hoặc dược sĩ.

Và điều vô cùng quan trọng, đừng nên tự ý sử dụng thuốc cho con của bạn trước khi có sự thăm khám, chỉ dẫn của bác sĩ.

1-9 of 9