Mục Lục


Hội chứng ruột dễ kích thích ( Irritable bowel syndrome ) [Sức khỏe người cao tuổi]

đăng 18:52, 27 thg 4, 2014 bởi My Lien   [ đã cập nhật 18:55, 27 thg 4, 2014 ]

Rối loạn tiêu hoá là triệu chứng thường gặp, nhất là trong các dịp lễ, Tết cổ truyền của người Việt nam. Hội chứng ruột dễ bị kích thích được định nghĩa như là một rối loạn chức năng tiêu hoá mãn tính, chiếm khoảng 10 % ở người lớn và thường ở phái nữ, nguyên nhân không được xác định với triệu chứng đau bụng và rối loạn đại tiện. Chẩn đoán chủ yếu được dựa trên tiền sử bệnh, như là một chẩn đoán loại trừ.

Các tiêu chuẩn chẩn đoán bao gồm:

  • Các cơn đau bụng thuyên giãm ngay sau khi được đi đại tiện.
  • Tính chất phân không tốt khi xảy ra cơn đau: phân lõng, phân sống, phân nhầy...
  • Đi đại tiện nhiều lần trong cơn đau.
  • Chướng bụng, bụng lình bình.
  • Cảm giác đi đại tiện không hết.
  • Cảm giác muốn đi đại tiện ngay sau khi ăn “ cái gì lạ “ nào đó.

Các triệu chứng kết hợp.

            Các triệu chứng kết hợp bao gồm: mệt mõi triền miên, đau lưng, đau mõi cơ, ăn uống không tiêu, tiểu nhiều, rối loạn sinh dục và rối loạn tâm sinh lý.

Các bước chẩn đoán : đây là bệnh lý chẩn đoán tương đối khó, chủ yếu dựa vào loại trừ và phải mất nhiều thời gian lẫn tốn kém nên cần phải có sự hiểu biết và hợp tác chặt chẽ giữa người bệnh và người thầy thuốc. Các buớc chẩn đoán bao gồm:

  • Ghi kỹ bệnh sử, tiền sử bệnh, tính chất bệnh lý và các yếu tố liên quan.
  • Khám lâm sàng một cách tổng quát và đầy đủ.
  • Siêu âm bụng và tổng quát các bệnh có thể kết hợp như tim mạch, tuyến giáp nhằm mục đích loại trừ các bệnh lý thực thể.
  • Chụp x quang tim phổi.
  • Xét nghiệm máu, tốc độ máu lắng. Xét nghiệm sinh hoá, một số loại nội tiết tố, ion đồ, chức năng gan mật,…
  • Xét nghiệm phân để đánh giá tính chất phân và ký sinh trùng đường ruột.
  • Nội soi tiêu hoá để loại trừ các nguyên nhân thực thể.

Hướng điều trị

            Cho đến ngày nay, người ta cho rằng hội chứng ruột dễ bị kích thích là hậu quả liên đới của nhiều yếu tố như sự tăng nhạy cảm của các cơ quan nột tạng, rối loạn vận động nội tạng, tăng nhạy cảm của não bộ, hậu quả của viêm nhiễm đường tiêu hoá trước đó, các rối loạn về tinh thần và có thể do di truyền. Từ đó các phương pháp điều trị theo y học hiện đại là điều trị triệu chứng như điều trị bằng thuốc chống co thắt, chống táo bón, giãm đau,…

            Nhưng trên cơ sở phân tích theo hoàn cảnh Việt nam, về con người Việt nam thì chúng tôi nghĩ rằng khi đã có hội chứng ruột dễ bị kích thích thì nó đã ở giai đoạn rối loạn về hệ thần kinh thực vật. Do đó, điều trị cơ bản phải dựa trên sự điều trị tại GỐC này và chính NGƯỜI BỆNH sẽ TỰ ĐIỀU TRỊ cho chính mình là CHỦ YẾU.

            Về cơ bản để đạt được điều này thì người bệnh phải hiễu rõ bệnh lý chính mình, tự quản lý chính mình, từ đó sẽ có chương trình điều trị cụ thể. Để ý thức được điều này, theo chúng tôi thì người bệnh có thể tập THIỀN, tập Yoga để làm chủ được tinh thần của chính mình, để đạt được 3 KHÔNG : “ KHÔNG LO, KHÔNG SỢ, KHÔNG NGHĨ “. Không lo, tới đâu hay tới đó, tới đâu điều trị tới đó. Không sợ bị ung thư gì cả, chỉ là bệnh xoàng thôi. Không nghĩ đến nó nữa.

            Kết hợp điều trị tâm lý trên thì cũng cần phải điều trị hỗ trợ với các loại thuốc thích hợp đề người các biến chứng, nâng đở khả năng đề kháng của cơ thể. Cũng như cần phải có chế độ ăn thích hợp, lành mạnh và cuộc sống sinh hoạt tích cực, trong sạch, thoải mái,… Hãy chiến thắng bản ngã của mình.

Hội chứng mệt mõi mãn tính [Sức khỏe người sao tuổi]

đăng 18:27, 23 thg 4, 2014 bởi My Lien   [ đã cập nhật 18:27, 23 thg 4, 2014 ]

Định nghĩa 
Hội chứng mệt mỏi mãn tính là một rối loạn phức tạp đặc trưng bởi sự mệt mỏi cùng cực mà không thể được giải thích bằng bất kỳ điều kiện y tế cơ bản. 
Nguyên nhân của hội chứng mệt mỏi mãn tính là không rõ, mặc dù có nhiều giả thuyết - từ nhiễm virus đến tâm lý căng thẳng. Một số chuyên gia tin rằng hội chứng mệt mỏi mãn tính có thể được kích hoạt bởi một sự kết hợp của các yếu tố. 
Triệu chứng 
Hội chứng mệt mỏi mãn tính thường được biểu hiện các triệu chứng như:
Mất trí nhớ hoặc mất tập trung 
Đau họng không rõ căn nguyên
Hạch to ở cổ hoặc nách của bạn 
Đau cơ không rõ nguyên nhân 
Đau di chuyển từ một phần khác mà không sưng hoặc tấy đỏ 
Đau đầu từ nhẹ đến nghiêm trọng 
Rối loạn giấc ngủ 
Cực kỳ mệt mỏi kéo dài hơn 24 giờ sau khi tập thể dục thể chất hoặc tâm thần 
Mệt mỏi có thể là một triệu chứng của nhiều bệnh, chẳng hạn như nhiễm trùng hoặc rối loạn tâm lý. Nói chung, đến gặp bác sĩ nếu bạn có mệt mỏi dai dẳng hoặc quá mức. 

Nguyên nhân 
Các nhà khoa học không biết chính xác những gì gây ra hội chứng mệt mỏi mãn tính. Một số trong những yếu tố đã được nghiên cứu bao gồm: 
Nhiễm virus. Hội chứng mệt mỏi mãn tính sau khi bị nhiễm virus. Virus nghi ngờ đã bao gồm Epstein-Barr, herpesvirus ,..
Rối loạn hệ thống miễn dịch. Các hệ thống miễn dịch của người có hội chứng mệt mỏi mãn tính bị suy giảm sau khi bị nhiễm trùng, sau khi rối loạn về tâm lý, rối loạn dinh dưỡng,
Sự mất cân bằng nội tiết tố. Hội chứng mệt mỏi mãn tính có thể có bất thường hormon được tiết ra từ vùng dưới đồi, tuyến yên hoặc tuyến thượng thận. 

Yếu tố nguy cơ 
Yếu tố có thể làm tăng nguy cơ của hội chứng mệt mỏi mãn tính bao gồm: 
Tuổi. Hội chứng mệt mỏi mãn tính có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng thường ảnh hưởng đến những người ở độ tuổi 40 và 50. 
Quan hệ tình dục không thỏa mãn. Phái nữ được chẩn đoán mắc hội chứng mệt mỏi mãn tính nhiều hơn là nam giới, 
Lối sống. Những người thừa cân và không hoạt động có nhiều khả năng phát triển hội chứng mệt mỏi mãn tính. Căng thẳng cũng dường như là một yếu tố. 

Biến chứng 
Biến chứng của hội chứng mệt mỏi mãn tính bao gồm: 
Trầm cảm 
Sống cô lập 
Hạn chế lối sống 
Giãm năng suất làm việc

Khám và chẩn đoán 
Không có cách khám duy nhất nào để xác định chẩn đoán hội chứng mệt mỏi mãn tính. Cần phải khám sức khỏe tổng quát, khám lâm sàng và sẽ hướng đến chẩn đoán mệt mõi mãn tính sau khi đã loại hết các bệnh lý khác. Nhưng chú ý, hội chứng này có nhiều triệu chứng sẽ đan chéo tạo vòng lẫn quẫn trong chẩn đoán, có thể là triệu chứng chính hoặc có thể là hậu quả của triệu chứng khác, do đó cần bác sĩ có nhiều kinh nghiệm sẽ chẩn đoán chính xác hơn. 
Rối loạn giấc ngủ. Mệt mỏi mãn tính có thể được gây ra bởi rối loạn giấc ngủ. Rối loạn giấc ngũ kéo dài lại gây ra mệt mõi mạn tính. 
Vấn đề y tế. Mệt mỏi là một triệu chứng phổ biến trong một số bệnh lý như chẳng hạn như thiếu máu, tiểu đường và tuyến giáp (hypothyroidism). 
Các vấn đề sức khỏe tâm thần. Mệt mỏi cũng là một triệu chứng của một loạt các vấn đề sức khỏe tâm thần như trầm cảm, lo âu, rối loạn lưỡng cực và tâm thần phân liệt. 

Tiêu chuẩn chẩn đoán 
Để đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng mệt mỏi mãn tính và mệt mỏi phải kéo dài trong sáu tháng hoặc hơn, cùng với ít nhất bốn trong những dấu hiệu và triệu chứng sau đây: 
Mất trí nhớ hoặc mất tập trung 
Đau họng không rõ căn nguyên
Hạch to ở cổ hoặc nách của bạn 
Đau cơ không rõ nguyên nhân 
Đau di chuyển từ một phần khác mà không sưng hoặc tấy đỏ 
Đau đầu từ nhẹ đến nghiêm trọng 
Rối loạn giấc ngủ 
Cực kỳ mệt mỏi kéo dài hơn 24 giờ sau khi tập thể dục thể chất hoặc tâm thần 

Phương pháp điều trị và thuốc 
Điều trị hội chứng mệt mỏi mãn tính tập trung vào giảm triệu chứng. Có thể tập trung cắt đứt một triệu chứng nào nặng nhất trước.
Thuốc 
Thuốc chống trầm cảm. Nhiều người có hội chứng mệt mỏi mãn tính cũng bị trầm cảm. Điều trị trầm cảm của bạn có thể làm cho nó dễ dàng hơn để bạn có thể đối phó với những vấn đề liên quan với hội chứng mệt mỏi mãn tính. Và liều thấp của một số thuốc chống trầm cảm cũng có thể giúp cải thiện giấc ngủ và giảm đau. 
Thuốc ngủ. Nếu các biện pháp nhẹ như tránh caffeine, rượu không giúp cải thiện giấc ngũ tốt hơn thì cần uống thuốc ngũ theo toa.
Tập thể dục. tập thể dục đều đặc và vừa sức là liều thuốc không thể thiếu. Cường độ tăng dần theo thể trạng của mỗi người.
Tư vấn tâm lý. Nói chuyện với một bác sĩ tâm lý để giãi thóa về mặt tâm lý để lấy lại thăng bằng trong cuộc sống. 
Giảm bớt căng thẳng. Thư giãn, nghĩ ngơi. 
Cải thiện thói quen ngủ. Đi ngủ và thức dậy vào cùng một thời điểm mỗi ngày. Hạn chế  cà phê, rượu và thuốc lá. 
Làm việc khoa học. 

Thuốc thay thế 
Bổ sung các loại vitamine và vi lượng cần thiết cho cơ thể.
Bổ sung các thiếu sót về nội tiết tố cần thiết.

HÃY MẠNH DẠNG THAY ĐỔI VÀ ĐOẠN TIỆT VỚI NHỮNG GÌ CHÚNG TA CÓ THỂ LÀM. CÓ SỨC KHỎE LÀ CÓ TẤT CẢ.

Bs Trương Hiếu Nghĩa

CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG CỦA NGƯỜI TIỂU ĐƯỜNG [Sức khỏe người cao tuổi]

đăng 18:25, 22 thg 4, 2014 bởi My Lien   [ đã cập nhật 18:25, 22 thg 4, 2014 ]

Ăn uống cho người tiểu đường là một trong nhưng vấn đề khó khăn và không phải ai cũng có thể kiềm chế để tuân thủ theo chế độ. Nhưng trên hết , chúng ta phải có sự tính toán y- khoa học để đảm bảo đúng theo quy trình điều trị và cũng hợp với điều kiên sống và sinh hoạt để người bệnh có chất lượng cuộc sống và chất lượng sức khỏe tốt nhất.
Ăn đúng số lượng của các loại thực phẩm khác nhau là rất quan trọng cho sức khỏe tổng thể của bạn. Để đơn giãn hóa chế độ ăn cho người tiểu đường, chúng ta chia phần trên đĩa như sau:
- Rau củ quả là phần chính trong bữa ăn, chiếm ½ dĩa. Nó giúp cung cấp đầy đủ các loại vitamins và khoáng chất cần thiết cho chuyên hóa và hoạt động của cơ thể.
- Chất đạm không thể thiếu trong thành phần ăn của người tiểu đường, tốt nhất là thịt cá, thịt gà, heo,  bò, nhưng cần hạn chế tối đa mỡ và lòng động vật, trứng,… Thành phần đạm chiếm ¼ dĩa.
- Thành phần còn lại cho khẩu phần ăn chủ yếu là chất đường ( cơm, trái cây, sữa chua, chuối, khoai lang, khoai tây,…). Chất đường cũng rất cần cho hoạt động của cơ thể, cung cấp năng lượng cho cơ thể, nhất là não.

Tóm lại, đối với người bị tiểu đường, chúng ta cần nhớ đến nguyên tắc 3 chân “ thuốc, chế độ ăn và chế độ tập thể dục “. Ba chân này chúng ta không thể bỏ chân nào cả, vì chúng ta không thực hiện 1 trong 3 nguyên tắc trên thì sự điều trị của chúng ta chắn chắn sẽ thất bại và dẫn đến các biến chứng đáng tiếc xãy ra do bệnh lý này.
Chúng ta cố gắng tuân thủ nguyên tắc điều trị, nhưng cũng đơn giãn hóa các thủ tục không cần thiết để chúng ta có cuộc sống thoải mái hơn, như chúng ta vẫn sinh hoạt ăn uống tiệc tùng bình thường, miễn sau chúng ta tôn trong nguyên tắc “ chiếc đĩa” và nếu khó khăn trong việc “ từ chối lời mời bắc buột” thì chúng ta có thể uống thuốc hỗ trợ để kiềm chế ngay lượng đường sau khi ăn tiệc lớn.

Bs Trương Hiếu Nghĩa

Báo động Béo phì : hãy kiềm chế bản ngã của mình !!!! [Sức khỏe người cao tuổi]

đăng 18:33, 20 thg 4, 2014 bởi My Lien   [ đã cập nhật 18:34, 20 thg 4, 2014 ]

Những người béo phì có nguy cơ lớn hơn nhiều so với những người có một cân nặng lý tưởng, có nguy cơ rất cao các bệnh lý như cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, đột quỵ, đái tháo đường, bệnh về túi mật, ngưng thở khi ngũ và bệnh ung thư khác nhau.


Nguyên nhân

Béo phì xảy ra khi calo nạp vào nhiều hơn tiêu thụ hoặc do rối loạn chuyễn hóa hoặc rối loạn hóc môn hoặc do dùng thuốc hoặc do bệnh lý.

Một số nghiên cứu gần đây cho thấy một số yếu tố di truyền có thể gây ra những thay đổi trong sự thèm ăn và chất béo chuyển hóa dẫn đến bệnh béo phì. Nguy cơ béo phì là cao đối với một người dễ mắc về mặt di truyền để đạt được trọng lượng (ví dụ . do sự trao đổi chất chậm hơn) và một lối sống ít vận động và không lành mạnh.

Các yếu tố môi trường và lối sống cũng có ảnh hưởng như thức ăn nhanh, thức uống chế biến nhiều năng lượng, ít vận động. Yếu tố tâm lý cũng có thể bị chứng béo phì. Cảm giác vô dụng, cảm giác tội lỗi, căng thẳng tinh thần hoặc chấn thương có thể kích hoạt một cơ chế bảo vệ như ăn quá nhiều.

Triệu chứng và biến chứng

Trong số các nguy cơ sức khỏe có liên quan đến béo phì bao gồm:

  • Rối loạn hô hấp (ví dụ ngưng thở khi ngủ, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính)  
  • Một số loại ung thư (ví dụ: ung thư tuyến tiền liệt và ruột cho nam giới, ung thư vú và ung thư tử cung cho phụ nữ) 
  • Bệnh động mạch vành (tim) 
  • Trầm cảm 
  • Bệnh tiểu đường  
  • Một căn bệnh của túi mật hoặc gan   
  • Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD)
  • Huyết áp cao  
  • Tăng cholesterol máu   
  • Bệnh khớp (ví dụ: viêm xương khớp)  
  • Một cơn đột quỵ

Những người béo phì có thể có các triệu chứng của bệnh ở trên. Trong số các phổ biến nhất, có huyết áp cao, cholesterol cao, các vấn đề hô hấp và đau khớp (ở đầu gối hoặc lưng dưới). Còn một người béo phì, càng có nhiều khả năng có vấn đề sức khỏe liên quan đến bệnh béo phì.

Ngoài các biến chứng y khoa, béo phì cũng liên quan đến vấn đề tâm lý như lòng tự trọng thấp, phân biệt đối xử, khó khăn trong việc tìm kiếm một công việc và chất lượng cuộc sống giảm.

Chẩn đoán

Đo chỉ số khối cơ thể (BMI) không trực tiếp đánh giá khối lượng chất béo, nhưng là một công cụ hữu ích cho việc đánh giá các nguy cơ sức khỏe của tình trạng thừa cân hoặc béo phì. Người ta ước tính rằng các giá trị của chỉ số BMI khỏe mạnh là giữa 18,5 và 24,9. BMI được tính bằng cân nặng (kg) / chiều cao (m) bình phương

BMI

Tình trạng trọng lượng

Dưới 18,5

Thiếu cân

18.5 - 24.9

Bình thường

25,0-29,9

Thừa cân

30.0 và cao hơn

Béo phì

40.0 và cao hơn

Cực kỳ béo phì

Các bác sĩ cũng có thể sử dụng các biện pháp khác, chẳng hạn như vòng bụng, để đánh giá các nguy cơ sức khỏe liên quan đến mỡ bụng dư thừa. Khi chỉ số BMI và vòng eo chỉ ra một nguy cơ cao của các vấn đề sức khỏe, xét nghiệm bổ sung có thể xảy ra.

Điều trị và phòng ngừa

Thay đổi lối sống của bạn

Quản lý và điều trị bệnh béo phì nhằm mục đích giảm thiểu rủi ro sức khỏe và cải thiện chất lượng cuộc sống. Một chương trình quản lý trọng lượng thích hợp thường kết hợp hoạt động thể chất với một chế độ ăn uống lành mạnh và một sự thay đổi thói quen hàng ngày. Các chương trình khác cũng có thể bao gồm tư vấn tâm lý và, trong một số trường hợp, thuốc men. Mất cân thành công và giữ cho nó đi là một mục tiêu đầy tham vọng đòi hỏi phải có những thay đổi trong lối sống và hành vi.

Điều quan trọng là phải có một chế độ ăn uống lành mạnh và cân bằng. Chế độ ăn kiêng và chế độ ăn nghiêm ngặt hiếm khi thành công và có thể nguy hiểm. Việc cung cấp năng lượng phải cung cấp cho cơ thể năng lượng tối thiểu để hoạt động bình thường. Không có chế độ ăn uống có ít hơn 1.000 hoặc 1.200 calo / ngày. Các "chế độ ăn uống nghiêm ngặt" không bao giờ là một giải pháp lâu dài tốt bởi vì trọng lượng bị mất thường trở lại khi họ không được thực hiện.

Để giảm cân thành công và duy trì một trọng lượng khỏe mạnh, bạn phải luôn luôn thay đổi thói quen ăn uống và lối sống ít vận động và học cách nhận biết trạng thái cảm xúc ảnh hưởng đến hành vi ăn uống và kích hoạt ăn quá nhiều. Nó cũng nên đặt ra mục tiêu cụ thể và thực tế phải đạt được.

Hoạt động thể chất thường xuyên là một phần quan trọng của chương trình quản lý cân nặng của bạn. Không chỉ tập thể dục góp phần kiểm soát cân nặng, nhưng nó cũng cải thiện sức khỏe tổng thể và có thể làm giảm nguy cơ các bệnh như một số hình thức ung thư, tim mạch và loãng xương. Điều quan trọng là nên tập thể dục thường xuyên và chất lượng với lịch trình hàng ngày nhưng phải phù hợp với tình trạng sức khỏe của từng người.

Can thiệp y tế

Thuốc có thể là một thành phần của một chương trình quản lý trọng lượng. Thuốc không phải là "chữa bệnh bằng phép" dẫn đến giảm cân lâu dài. Họ thường sử dụng kết hợp với một chế độ ăn uống và chương trình tập luyện thích hợp. Họ được dành riêng cho những người tìm thấy béo phì (BMI lớn hơn 30) hoặc những người có chỉ số BMI từ 27 và có các yếu tố nguy cơ khác đối với bệnh tim như cholesterol cao hoặc bệnh tiểu đường .

Một số loại thuốc đã được phê duyệt chỉ có việc làm ngắn hạn. * Orlistat, hoạt động bằng cách ngăn chặn sự hấp thu chất béo trong ruột, là một ví dụ về một loại thuốc được sử dụng để giảm cân. Thảo luận với bác sĩ của bạn cho dù thuốc này sẽ là một lựa chọn tốt cho bạn.

Phẫu thuật là một lựa chọn khi những cách khác để chăm sóc người thừa cân đã không thành công. Có nhiều hình thức phẫu thuật béo phì, nhưng thường phẫu thuật làm giảm kích thước của dạ dày để chỉ một lượng nhỏ thức ăn có thể ăn mà không gây ra cảm giác khó chịu. Trong số các lựa chọn phẫu thuật được sử dụng để điều trị béo phì bao gồm: 

  • phẫu thuật dạ dày,
  • phẫu thuật dạ dày
  • các điều chỉnh nội soi dạ dày dải,
  • Bypass dạ dày Roux-en-Y
  • đóng ghim của các bức tường dạ dày.

Khi bạn xem xét điều trị thích hợp cho việc quản lý của thừa cân, điều quan trọng là phải xem xét những rủi ro và lợi ích của mỗi người. Bác sĩ và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe khác có thể cung cấp cho bạn những thông tin bạn cần phải thực hiện một sự lựa chọn.

Bs TRƯƠNG HIẾU NGHĨA 

THỰC PHẨM GIÚP "ĐÁNH BAY" NỖI LO BỆNH SỞI Ở TRẺ [Sức khỏe trẻ em]

đăng 19:01, 18 thg 4, 2014 bởi My Lien

Trong khi Bộ Y tế đánh giá dịch sởi xảy ra quy mô nhỏ thì tại các bệnh viện, bác sĩ vẫn quay cuồng đối phó với sởi bởi lượng bệnh nhân biến chứng nặng do sởi nhập viện.
Bệnh sởi có tốc độ lan rất nhanh, khoảng 90% số trẻ tiếp xúc với trẻ mắc sởi sẽ bị lây bệnh. Những trẻ có nguy cơ mắc sởi cao là những trẻ có thể trạng yếu, trẻ sinh non, không được tiêm phòng vắcxin phòng ngừa đầy đủ. Người lớn cũng có thể bị sởi nếu cơ thể không đủ miễn dịch với bệnh.

Để hạn chế bệnh lây lan, bác sỹ khuyến cáo nên hạn chế vào thăm người bệnh, nếu ra về cần khử trùng bằng cách tắm giặt sạch sẽ, thay quần áo mặc vào viện, nhỏ nước muối sinh lý vào họng, mũi, … để sát khuẩn. Virus sởi có thể sống trong môi trường bình thường từ 3-4 giờ đồng hồ.

Năm nay, dịch sởi diễn biến khá đặc biệt, nhất là có nhiều ca sởi gây biến chứng viêm phổi rất nặng. Khi bệnh nhi vừa mới mọc ban, nhiều trẻ chưa xác định có bị sởi hay không đã biến chứng viêm phổi. Dù các bác sĩ đã dùng kháng sinh ngay từ đầu để điều trị cho trẻ mắc sởi nhưng trẻ vẫn tử vong.
Với những thực phẩm "vàng" dưới đây sẽ giúp bé nhà bạn "hạ gục" nỗi lo bệnh sởi xâm nhập cơ thể.

Sữa chua

Probiotic, một loại vi khuẩn sống có tác dụng tuyệt vời trong việc tăng cường hệ miễn dịch và ngăn chặn sự xâm nhập của virus, được tìm thấy trong sữa chua. Mặc dù nhiều loại thực phẩm khác cũng có probiotic nhưng sữa chua là được coi như nguồn probiotic dồi dào số 1 cho trẻ nhỏ.

Một nghiên cứu của trường Đại học Viên cho biết mỗi ngày trẻ ăn 1 hộp sữa chua có tác dụng tương đương với tiêm một ống thuốc tăng sức đề kháng. Cũng có bằng chứng từ các chuyên gia Thuỵ Điển cho thấy những bé được ăn sữa chua có chứa probiotic hàng ngày có số ngày ốm ít hơn 33% so với những bé khác. Chính vì vậy, mẹ đừng quên cho con ăn sữa chua để phòng tránh dịch sởi.

Bé từ 6 tháng tuổi trở lên có thể ăn được sữa chua mỗi ngày với “tiêu chuẩn” như sau:

- 6-10 tháng: 50g/ngày.

- 1-2 tuổi: 80g/ngày.

- Trên 2 tuổi: 100g/ngày.
Yến mạch

Theo một chuyên gia người Nauy, yến mạch có chứa beta-glucan, một loại sợi có khả năng kháng khuẩn và chống oxy hoá. Khi động vật ăn hợp chất này, chúng ít có khả năng bị cúm, herpes và nhiều bệnh lây nhiễm khác. Yến mạch không những có khả năng tăng cường hệ miễn dịch, đẩy nhanh tốc độ khỏi bệnh và còn có thể giúp thuốc kháng sinh phát huy tác dụng tốt hơn. Mẹ nên cho trẻ ăn yến mạch khoảng 3 lần/ tuần xen kẽ với việc ăn cơm gạo và các loại thực phẩm tinh bột khác.









Canh gà


Thịt gà khi nấu thành canh sẽ sản sinh ra một loại chất có tác dụng giúp trẻ tăng sức đề kháng.

Một nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trường Đại học Nebraska phát hiện ra rằng chất Cysteine ​​acid amin sản sinh từ thịt gà trong khi nấu canh có tác dụng hóa học tương tự như acetylcystein – một chất có trong thuốc giúp ngăn chặn sự di cư của các tế bào viêm. Bổ sung thêm gia vị tự nhiên chẳng hạn như hành và tỏi vào món canh gà, súp gà cho trẻ có thể giúp tăng sức mạnh của hệ miễn dịch cho bé.





Sữa tươi


Sữa tươi cung cấp lượng dinh dưỡng, vitamin, và khoáng chất dồi dào cho cơ thể. Những trẻ em được uống sữa tươi thường xuyên thì sẽ có sức khoẻ rất tốt, hệ miễn dịch được tăng cường, đồng thời nồng độ vitamin D trong máu cũng cao hơn so với các trẻ em khác.

Các nghiên cứu cũng khẳng định tỷ lệ đạm whey và casein trong sữa tươi có thể gây rối loạn tiêu hóa ở trẻ dưới 12 tháng tuổi nên sữa tươi được khuyến cáo chỉ nên dùng cho trẻ trên 12 tháng tuổi. (Tỉ lệ whey:casein ở sữa mẹ là 60:40. Và tỉ lên này được coi là tỉ lệ tối ưu, giúp trẻ hấp thu tốt nhất và cũng là tiêu chuẩn đối với các sản phẩm sữa công thức dành cho trẻ nhũ nhi. Vì thế đối với trẻ dưới 12 tháng tuổi các mẹ không nên cho trẻ uống sữa tươi).
Cho nên, mẹ hãy tập cho trẻ thói quen uống sữa tươi mỗi ngày để trẻ có thể phát triển khỏe mạnh nhé!




Thịt bò


Thịt bò có chứa rất nhiều kẽm - khoáng chất quan trọng cho hệ miễn dịch của trẻ. Thiếu kẽm là một trong những thiếu hụt dinh dưỡng phổ biến ở trẻ nhỏ. Và thật không may, bởi vì thiếu hụt kẽm còn có thể làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh.

Kẽm trong chế độ ăn uống của trẻ là rất quan trọng đối với sự phát triển của các tế bào bạch huyết - tế bào của hệ miễn dịch giúp nhận ra và tiêu diệt vi khuẩn xâm nhập, virus và các tác nhân "xấu" khác. Để bổ sung kẽm cho trẻ, mẹ nên ưu tiên cho con ăn thịt bò từ 3-4 bữa/tuần.







Củ năng
Theo Đông y, củ năng thường được dùng trong các trường hợp bệnh nhiệt, sốt cao mất nước, vàng da, đi tiểu ra máu do huyết nhiệt, đại tiện ra máu do trĩ hoặc lỵ, sỏi đường tiết niệu, đau mắt đỏ, viêm phế quản, viêm họng, ho sốt do phế táo, đàm 
nhiệt, mụn nhọt, viêm loét da niêm mạc… Người ta thường ép củ năng, lấy nước dùng làm thuốc hạ nhiệt, trừ ho, tiêu đàm, rất tốt cho trẻ em bị sởi sốt cao, ho, khát nước, người bứt rứt.

- Ở trẻ mới mắc bệnh sởi hoặc sởi không phát được, có thể sử dụng 100ml nước ép củ năng phối hợp với hạt rau mùi 10-12g, sắc uống, có hiệu quả giải được nhiệt độc, hạ sốt, trừ ho.

- Hoặc dùng củ năng 500g, gọt bỏ vỏ ngoài, rửa sạch, xắt miếng nhỏ rồi ép lấy nước, lọc qua vải sạch rồi hòa với đường phèn vừa đủ, chia uống vài lần trong ngày. Dùng cho trẻ bị sởi, nóng sốt, ho, các bệnh viêm nhiễm cấp tính đường hô hấp trên như viêm họng, viêm amidan, viêm phế quản...

- Hoặc dùng củ năng 200g, củ sen tươi 200g, trái lê 200g. Tất cả rửa thật sạch, xắt lát rồi ép lấy nước, lọc qua vải sạch, hòa với 15ml mật ong để uống. Dùng uống để phòng chống một số bệnh như viêm đường tiết niệu, viêm họng, viêm phế quản, trĩ, sốt cao mất nước...

- Trường hợp bệnh nhiễm trùng có sốt cao, khát nước nhưng không có mồ hôi: Dùng củ năng 200g, lê 1 trái, rễ lau 100g, củ cải đường 50g, củ sen tươi 100g. Tất cả rửa thật sạch, ép lấy nước uống để hỗ trợ trị liệu có hiệu quả.

- Trường hợp trẻ bị sởi, sốt cao li bì, rối loạn tiêu hóa: Dùng củ năng 200g, củ khoai mài (hoài sơn) 25g, hạt sen 25g, hạt bo bo (ý dĩ) 25g, rễ đinh lăng 15g, long nhãn nhục 15g. Tất cả rửa sạch, nấu với 1 lít nước, sắc còn 650ml, để nguội, chia 2-3 lần uống trong ngày. Tác dụng thanh nhiệt sinh tân dịch, lương huyết giải độc, hạ sốt, hóa đàm, trừ ho, tiêu thực tích, mát gan, sáng mắt...


Ngoài ra, món chè củ năng, hạt sen cũng rất tốt cho trẻ bệnh sởi.

Lưu ý, củ năng có tính mát nên không dùng cho những người có thể chất hàn hoặc bệnh lý thuộc thể hư hàn, có các triệu chứng như sợ lạnh, tay chân lạnh, dễ bị cảm lạnh, ăn kém tiêu, dễ đau bụng khi ăn đồ sống lạnh, đại tiện phân lỏng hoặc nát...








Mía lau

Mía lau rất tốt cho trẻ em bị sởi, phát sốt, làm thương tổn đến tân dịch, khát nước, tâm phiền, nôn ói, ho do phổi khô ráo, đại tiện táo kết, hầu họng sưng đau.

- Mía lau nấu củ năng, hạt sen: Rất có ích cho trẻ em bị sởi, ban không phát được, sốt cao, mất ngủ, người bứt rứt, khát nước.

Củ năng 200g, hạt sen 50g, 1 bó mía lau, lá dứa 10g, rễ tranh 20g, râu bắp 20g, đường cát 50g. Củ năng gọt vỏ, rửa sạch, xắt làm 4 hoặc 5 phần. Bó mía lau, lá dứa, rễ tranh, râu bắp rửa sạch. Tất cả cho vào nồi đun sôi với 2 lít nước. Khi nước sôi, cho đường vào khuấy tan. Đun sôi lại, tắt bếp, lọc bỏ bã, lấy nước cho vào nồi, cho củ năng vào rồi nấu chín.

Nếm lại thấy có vị ngọt dịu, thanh là được. Hạt sen ngâm mềm, cắt bỏ đầu, bỏ tim. Đem luộc hoặc hấp chín. Múc nước mía lau, củ năng và hạt sen vào ly, dùng khi khát nước.


Bài viết: nguoiduatin.vn
Hình ảnh: internet

Bệnh lý Tiểu đường và sức khỏe tình dục

đăng 18:26, 18 thg 4, 2014 bởi My Lien   [ đã cập nhật 18:27, 18 thg 4, 2014 ]

Nhiều người cho rằng bệnh mãn tính sẽ có ảnh hưỡng ít nhiều đến đời sống tình dục. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy rằng nếu duy trì đời sống tình dục thường xuyên sẽ giúp cải thiện được các bệnh lý mạn tính và vẫn duy trì được sức khỏe tình dục, nhất là đối với bệnh lý tiểu đường.

Các vấn đề tình dục cho cả nam và nữ

Một trong những vấn đề tình dục phổ biến nhất ở những bệnh nhân tiểu đường type 2 là giảm ham muốn tình dục, hoặc mất ham muốn tình dục và rối loạn cương dương ở phái nam. Điều này có thể ga6ygia4m chất lượng cuộc sống và cả hạnh phúc gia đình. Nhưng chúng ta cần duy trì và giãi quyết trước khi các biến chứng thực thể xãy ra như viêm dây thần kinh, viêm mạch máu,… thì sẽ ngăn được các tình trạng rối loạn tình dục này. Nguyên nhân của ham muốn tình dục thấp có liên quan với bệnh tiểu đường loại 2 bao gồm:

·         tác dụng phụ của thuốc tình dục

·         mệt mỏi cùng cực

·         thiếu năng lượng

·         trầm cảm

·         thay đổi nội tiết tố

·         các vấn đề sức khỏe tình cảm bao gồm căng thẳng, lo lắng và các vấn đề mối quan hệ

Bệnh thần kinh đái tháo đường cũng có thể là một vấn đề vì nó có thể dẫn đến tê, đau, hoặc thiếu cảm giác trong bộ phận sinh dục . Điều này có thể ức chế cực khoái, làm cho quan hệ tình dục đau đớn hoặc “ mất điện “ ngày từ đầu.

Thiếu sự giao tiếp chân tình và thông cảm giữa các đối tác về các vấn đề tình dục có thể ảnh hưởng đến tình dục và thân mật bên một mối quan hệ. Đôi khi các cặp vợ chồng chỉ "trả bài"  và “ an bài “ trong mối quan hệ tình dục chứ không tích cực duy trì chất lượng.

Các vấn đề tình dục của nam giới

Vấn đề hầu hết đàn ông phải đối mặt là rối loạn cương dương , trên bảo dưới chẳng thèm nghe .Trong thực tế, trong một số trường hợp bệnh tiểu đường được chẩn đoán khi người đàn ông tìm cách điều trị rối loạn cương dương mới phát hiện ra mình bị bệnh tiểu đường.

Thất bại trong việc đạt được hoặc duy trì sự cương cứng cho đến khi xuất tinh có thể được gây ra từ viêm dây thần kinh, rối loạn cơ bắp, hoặc viêm mạch máu. Thay đổi trong mức độ testosterone cũng có thể ảnh hưởng đến sự cương cứng, cũng như có thể do tác dụng phụ của thuốc. Các bệnh đi kèm với bệnh tiểu đường cũng góp phần làm rối loạn chức năng cương dương. Ví dụ:

·         béo phì

·         huyết áp cao

·         vấn đề tình cảm và tâm lý như trầm cảm, lòng tự trọng thấp, và lo lắng

·         tập thể dục quá ít

Xuất tinh ngược dòng cũng là một vấn đề tình dục có thể người đàn ông có thể gặp như một biến chứng của bệnh tiểu đường loại 2. Xuất tinh ngược dòng, đó là khi tất cả hoặc một phần của tinh dịch xuất tinh trở lại vào bàng quang thay vì ra khỏi dương vật, xảy ra do có một vấn đề với cơ thắt của cơ vòng cổ bang quang. Lượng đường cao bất thường có thể dẫn đến tổn thương thần kinh điều khiển cơ vòng cổ bang quang gây xuất tinh ngược dòng.


Các vấn đề tình dục của phụ nữ

Đối với phụ nữ, vấn đề tình dục phổ biến nhất mà đi kèm với bệnh tiểu đường loại 2 là khô âm đạo.Điều này có thể được gây ra bởi những thay đổi nội tiết tố hoặc các vấn đề về lưu lượng máu đến bộ phận sinh dục.

Phụ nữ mắc bệnh tiểu đường đã tăng tỷ lệ nhiễm trùng âm đạo và viêm, cả hai đều có thể làm cho quan hệ tình dục đau đớn. Một vấn đề nữa là tổn thương thần kinh đến bàng quang có thể gây ra tiểu không tự chủ làm cho quan hệ tình dục xấu hổ. Phụ nữ mắc bệnh tiểu đường cũng có nhiều khả năng bị nhiễm trùng đường tiết niệu thường xuyên, mà cũng có thể làm cho quan hệ tình dục đau đớn và khó chịu.

Lời khuyên và thủ thuật để giúp ngăn chặn bệnh tiểu đường loại 2 ảnh hưỡng lên cuộc sống tình dục của bạn

Vấn đề tình dục xảy ra với bệnh tiểu đường loại 2 có thể khó chịu, chán nãn và gây ra sự lo lắng trong đời sống. Nhưng chủ yếu chúng ta phải hiểu rằng chúng ta cần phải duy trì đời sống tình dục để cải thiện lại bệnh lý tiểu đường và chất lượng cuộc sống. Nếu chúng ta buông suôi đời sống tình dục thì tình trạng chúng ta sẽ ngày càng tồi tệ hơn.

Chúng ta cần duy trì tập thể dục thường xuyên, tinh thần thoái mãi, duy trì chất lượng giấc ngũ tốt, ăn uống đầy đủ chất thì chúng ta sẽ duy trì được chất lượng sức khỏe một cách tốt nhất và ngừa các biến chứng có thể xãy ra do bệnh lý tiểu đường.

Nếu đã lỡ xãy ra một số vần đề thì chúng ta cần phải khắc phục ngay để tiếp tục duy trì đời sống tình dục. Sử dụng chất bôi trơn tự do để đối phó với khô âm đạo. 

Sữ dụng nội tiết tố thay thế cũng có thể giúp cả nam giới và phụ nữ có ham muốn tình dục, âm đạo bị khô và khả năng cương cứng. 

Duy trì sức khỏe tổng thể tối ưu cho một cuộc sống tình dục lành mạnh. Điều này bao gồm việc duy trì lượng đường trong máu thích hợp. Hãy nhớ rằng, quan hệ tình dục cũng giống như tập thể dục trong ý nghĩa đó là sử dụng hết năng lượng, vì vậy phải nhận thức được mức đường của bạn. Hạ đường huyết có thể xảy ra trong quá trình quan hệ tình dục, giống như với tập thể dục. Xem xét kiểm tra lượng đường trong máu của bạn trước khi tham gia vào hoạt động tình dục. Cũng nên nhớ rằng những gì là tốt cho tim là tốt cho bộ phận sinh dục. 

Hãy mạnh dạng thố lộ về vấn đề tình dục cho bác sĩ của bạn. Rối loạn chức năng tình dục có thể là một triệu chứng chỉ báo về sự tiến triển của một bệnh hoặc một dấu hiệu cho thấy một căn bệnh không được kiểm soát. Ngoài ra, cũng cần thảo lu6a5n với bác sĩ các thuốc có ảnh hưỡng đến tình dục đang dùng ( nội tiết tố, thuốc điều trị rối lọan cương dương,..)

Bệnh tiểu đường loại 2 có thể làm cho hoạt động tình dục khó khăn hơn, nhưng nó không có nghĩa là bạn phải từ bỏ sinh hoạt tình dục hoàn toàn. Hãy cố gắng duy trì và hoạt động thường xuyên chăm chỉ hơn

Bs Trương Hiếu Nghĩa

Dấu hiệu suy thận ở nam giới [Sức khỏe nam giới]

đăng 18:54, 16 thg 4, 2014 bởi My Lien   [ đã cập nhật 18:54, 16 thg 4, 2014 ]

Có rất nhiều triệu chứng liên quan tới bệnh thận. Nếu được phát hiện kịp thời và điều trị sớm sẽ mang lại hiệu quả cho người mắc bệnh. Ở nam giới, nếu có nhiều hơn 1 các triệu chứng sau, bạn nên đi khám để được bác sĩ tư vấn:

Rùng mình, chi lạnh

“Rùng mình” là chỉ cảm giác sợ lạnh và gió, “chi lạnh” là chỉ tứ chi lạnh băng, thậm chí lạnh đến khớp đầu gối và khuỷu tay.

Cảm giác rùng mình, tứ chi ớn lạnh thông thường kèm theo các triệu chứng biểu hiện thận hư như lưng, đầu gối đau nhức mỏi, tinh thần mệt mỏi, chán chường, thở yếu, ít lời, nhạt miệng…

Chóng mặt hoa mắt, mất ngủ, ác mộng nhiều
Suy thận khiến nam giới gặp nhiều ác mộng
Rất nhiều bệnh mãn tính như viêm gan mãn tính, bệnh mạch vành, hen suyễn, viêm phế quản, cao huyết áp… thường thường đi kèm với triệu chứng thận hư.

Hen suyễn

Thận có chức năng “nạp” khí: Do thận hư không thể “tích” khí sẽ dẫn đến hơi thở khò khè, cảm thấy khó thở. Trong trường hợp nguy hiểm, cùng với triệu chứng hen suyễn còn có thể xuất hiện triệu chứng ra mồ hôi lạnh.

 Đau lưng

Đau lưng là dấu hiệu phổ biến của suy thận

Đau lưng- vấn đề cốt yếu là ở thận, có thể phân làm nội thương và lao lực mệt mỏi sinh bệnh:

- Thận nội thương thông thường là chỉ người có thể chất yếu bẩm sinh, có bệnh lâu ngày, cơ thể yếu hoặc mệt mỏi quá độ gây ra. Người bị nhẹ thì khó khom lưng hoặc đứng thẳng, người nặng thì có triệu chứng bàn chân, gót chân đau nhức….

- Lao lực sinh bệnh là chỉ thể lực gánh vác quá nặng hoặc trong thời gian dài làm việc ở một tư thế cố định (dùng máy tính, lái xe…), ngồi lâu sẽ làm tổn thương thận khí, dẫn đến thận tinh không đủ.

Tiểu nhiều về đêm

Đi tiểu từ 2 lần hoặc số lượng nước tiểu quá 1/4 so với cả ngày; nặng hơn là mỗi tiếng lại đi tiểu 1 lần, lượng nước tiểu gần hoặc vượt quá lượng nước tiểu ban ngày… gọi là “tiểu nhiều về đêm”.

Nguyên nhân đa phần là do thận khí hư yếu gây ra.

Chóng mặt tai ù

Rất nhiều người đã trải qua cảm giác chóng mặt, cái cảm giác hoa mắt, trời xoay đất chuyển, buồn nôn… kèm theo đó là tình trạng ù tai. Nếu lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ có thể làm cho tai bị điếc.

Nguyên nhân gây ra chóng mặt ù tai đa phần là có liên quan đến thận. Trong đông y nói “Thận chứa tinh sinh tủy, tủy tích tụ lại cho não”, vì vậy thận hư có thể dẫn đến tủy không đủ, não mất dinh dưỡng, xuất hiện hoa mắt, chóng mặt, tai ù.

Táo bón

Người táo bón thường có các biểu hiện như hậu môn nứt và dễ bị trĩ, ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt. Mặc dù táo bón là do chức năng truyền dẫn của đường ruột thất thường nhưng cội nguồn sâu xa là do thận hư gây nên, bởi vì sự truyền dẫn đại tiện bắt buộc thông qua sự kích hoạt và bồi bổ của thận khí mới có thể phát huy được tác dụng thông thường của nó.

Lưng mỏi chân đau

Thời gian dài cơ thể “cứng đờ” ngồi trên tàu xe không chuyển động, lái xe đi ra ngoài tinh thần căng thẳng… Những tình trạng trên kéo dài sẽ dẫn đến ngưng khí tụ máu và cuối cùng dẫn đến thận hư.

Ung thư ở nam giới [Sức khỏe nam giới]

đăng 18:47, 16 thg 4, 2014 bởi My Lien   [ đã cập nhật 18:50, 16 thg 4, 2014 ]

Các loại ung thư có nguy cơ tử vong cao ở nam giới

 

Tỷ lệ tử vong do ung thư ở nam cao hơn 80% so với nữ giới. Trong đó, bệnh gây tử vong nhiều nhất là ung thư phổi (ở nữ, bệnh này xếp sau ung thư vú). 

 

Các loại ung thư khác có nguy cơ tử vong cao ở nam giới theo trình tự là ung thư tuyến tiền liệt, da, đại tràng. Các bệnh này có xu hướng tăng trong mấy chục năm qua.

 

Ung thư phổi: Nguyên nhân chính gây bệnh là thói quen hút thuốc lá. Trong 10 năm tính đến 1998, số phụ nữ chết do ung thư phổi tăng 20% còn nam giới thì giảm 15%. Lý do là phụ nữ thì bắt đầu hút nhiều, còn nam giới thì lại đang bỏ hút.


Ung thư tuyến tiền liệt: Rất hiếm gặp ở tuổi dưới 40, và đa số các ca được chẩn đoán ở tuổi 70. Bệnh có thể phát triển rất chậm. Nhiều người có bệnh này nhưng lại chết về bệnh khác trước khi ung thư trở thành vấn đề nghiêm trọng. Xét nghiệm chẩn đoán sớm ung thư tuyến tiền liệt không có nghĩa là nhất thiết phải điều trị ngay. Ở giai đoạn sớm, có 4 cách lựa chọn điều trị:


- Chỉ theo dõi, nhận xét: Điều này hay áp dụng đối với người rất già hoặc bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt bậc rất thấp...


 Phẫu thuật loại bỏ tuyến tiền liệt. Áp dụng chủ yếu cho người trẻ hơn, nghĩa là dưới 70 tuổi.
- Xạ trị


- Điều trị bằng hormon, dùng thuốc để tinh hoàn ngừng sản xuất testosteron, hoặc cắt bỏ tinh hoàn.


Đối với trường hợp đã di căn, cách điều trị là dùng hormon.


Ung thư da: Tốc độ tiến triển của ung thư da (u melanin) hay biến đổi. Nó có thể lan tràn ngay từ giai đoạn sớm hoặc phải vài năm sau. Tỷ lệ chữa khỏi tùy thuộc vào độ dày của khối u. Giáo sư John Thomson thuộc Đại học Sydney cho biết, nếu u mỏng dưới 1 mm, tỷ lệ chữa khỏi là trên 98%. Nếu u dày trên 4 mm, tỷ lệ này chỉ dưới 50%.



Các ca ung thư da sớm thường có u mỏng; còn loại gây tử vong nhiều thường dày, có cục và xâm lấn sâu. 90% ung thư da nhiễm sắc tố nâu đen hoặc đen, còn 10% không có sắc tố. Ở nam, vị trí thường mắc nhất là lưng. Đó là vùng khó nhận thấy nên đặc biệt nguy hiểm.


Ung thư da liên quan đến sự tiếp xúc với ánh nắng mặt trời nhưng không nhất thiết phải xuất hiện ở vùng tiếp xúc. Đa số thương tổn có từ thời kỳ nhỏ tuổi, và phát triển sau 20-40 năm.


Ung thư đại tràng: Nảy sinh từ những polyp nhỏ lành tính trong ruột, có thể không gây triệu chứng gì. Để sàng lọc, có 2 cách: thử máu trong phân mỗi năm 1 lần, hoặc soi đại tràng 5-10 năm 1 lần. Giáo sư Bolin thuộc Bệnh viện Prince of Wale ở Sydney cho biết, hàng năm, việc thử máu trong phân giảm được 1/3 số ca tử vong, còn soi đại tràng giảm được 90%. Nên bắt đầu xét nghiệm từ 40 tuổi. 

Theo Opcpharma

Thêm một nguyên nhân làm tăng nguy cơ ung thư vú [Sức khỏe phụ nữ]

đăng 01:09, 16 thg 4, 2014 bởi My Lien   [ đã cập nhật 01:09, 16 thg 4, 2014 ]

Một nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng chế độ ăn nhiều chất béo làm tăng nguy cơ phát triển ba loại ung thư vú phổ biến.
Trong nghiên cứu lớn của Châu Âu được tiến hành trên 337.000 phụ nữ tại 10 quốc gia trong  hơn 11 năm, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những phụ nữ ăn nhiều chất béo bão hòa nhất tăng 30% nguy cơ ung thư vú so với những người ăn ít nhất.

Mặc dù nghiên cứu này chỉ ra mối liên quan giữa chế độ ăn nhiều chất béo và nguy cơ ung thư vú nhưng nó không chứng minh đây là mối quan hệ nhân quả.

Kết quả của nghiên cứu lớn này đã củng cố thêm giả thuyết rằng sự phát triển của ung thư vú có liên quan tới chất béo trong chế độ ăn. 

Cụ thể các nhà nghiên cứu cho biết việc dung nạp lượng lớn chất béo toàn phần và chất béo no có liên quan với sự gia tăng nguy cơ bị các kiểu ung thư vú như dương tính với thụ thể estrogen (ER), dương tính với thụ thể progesterone (PR). Chế độ ăn nhiều chất béo cũng dẫn tới tăng nguy cơ bị ung thư vú âm tính HER2.

Một nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng chế độ ăn nhiều chất béo làm tăng nguy cơ phát triển ba loại ung thư vú phổ biến. Ảnh minh họa

Các loại ung thư dương tính với ER hoặc PR phát triển trong sự đáp ứng với những hormone này. Các loại ung thư âm tính HER2 có kết quả âm tính với sự có mặt của protein, HER2, vốn thúc đẩy sự phát triển của tế bào ung thư.

Mia Gaudet, GĐ Khoa Dịch tễ học tại Hội Ung thư Hoa Kỳ cho biết điểm mạnh của nghiên cứu này là số lượng lớn người tham gia. Trong nghiên cứu mới này, những người tham gia đã trả lời những câu hỏi về việc dung nạp chất béo và những thói quen khác có thể ảnh hưởng tới nguy cơ bao gồm hút thuốc, độ tuổi, tiền sử mang thai, sử dụng liệu pháp hormone và chỉ số khối cơ thể (chỉ số về mỡ cơ thể dựa trên chiều cao và cân  nặng). Để hạn chế sai số trong bảng hỏi về chế độ ăn, các nhà nghiên cứu đã phỏng vấn ngẫu nhiên 8% phụ nữ về chế độ ăn trong  24 giờ. 

Sau thời gian theo dõi trung bình 11.5 năm, đã có 10.000 người được chẩn đoán bị ung thư vú. Những trường hợp ung thư được so sánh về sự dung nạp chất béo và các nhà nghiên cứu đã tìm thấy mối liên quan giữa việc dung nạp chất béo bão hòa và ung thư vú. Những người trong nhóm ăn chất béo bão hòa nhiều nhất đã ăn trung bình 48gram/ngày so với lượng 15gram/ngày ở những người ăn ít nhất.

Mối liên quan này chưa được giải thích nhưng có thể việc dung nạp chất béo cao làm tăng lượng estrogen trong cơ thể, do đó kích thích sự phát triển của các tế bào ung thư.

Nghiên cứu này được đăng trên tờ Journal of the National Cancer Institute ngày 9 tháng 4 năm 2014.
Sưu tầm


Tiêm phòng lao cho trẻ và những vấn đề mẹ cần biết [Sức khỏe trẻ em]

đăng 23:42, 2 thg 4, 2014 bởi Hieu Nghia   [ đã cập nhật 19:41, 6 thg 4, 2014 ]

Tiêm phòng là một trong những cách phòng bệnh hiệu quả nhất cho trẻ để tránh được các bệnh tật. Nhưng trước khi đưa con đi tiêm phòng các mẹ cần biết trong những trường hợp nào không nên đưa trẻ đi tiêm

Bệnh nhi bị hoại tử các ngón tay không liên quan đến vắc xin 

Vừa qua, trường hợp bé Khuất Tiến Minh tiêm thuốc phòng lao tại trạm y tế xã được ba ngày, cánh tay trái của bé bị tím tái, các ngón tay có dấu hiệu bị hoại tử đã gây xôn xao dư luận trong các ngày qua. 

Chị Nguyễn Thị Sen (SN 1987 ở xã Hợp Thịnh, Kỳ Sơn Hòa Bình) đưa con trai là bé Khuất Tiến Minh 18 ngày tuổi (sinh ngày 16/2/2014) lên trạm y tế xã để tiêm phòng lao. Sau khi tiêm về được một ngày, bé Minh có biểu hiện khó chịu, bỏ ăn, quấy khóc suốt đêm. Quá lo lắng, gia đình đưa cháu đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình, cháu được chuyển thẳng vào khoa cấp cứu Bệnh viện Nhi Trung ương.

Theo TS Nguyễn Thị Thu Hà, Phó trưởng Khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, bệnh nhi nhập viện trong tình trạng hôn mê, tím tái, ngừng thở, suy tuần hoàn. Ngay khi thăm khám bác sĩ chẩn đoán bé Minh bị nhiễm khuẩn huyết toàn thân rất nặng nề, phải thở máy, bị rối loạn đông máu nội mạc. 

Tuy nhiên, nguyên nhân của nhiễm khuẩn huyết không phải là do vắc xin, bởi biến chứng tiêm phòng lao không gây biểu hiện lâm sàng như thế mà trẻ thường sốt liên tục, có ổ ápxe tại chỗ tiêm, nặng hơn thì nổi hạch lao... Mà vị trí tiêm vắc xin hoàn toàn bình thường, trong khi bé bị hoại tử ở các ngón tay. Phim chụp Xquang không cho thấy trẻ bị nhiễm lao, trẻ cũng không có biểu hiện của phản ứng sau tiêm vắc xin. Do đó có thể khẳng định bệnh nhi bị hoại tử các ngón tay không liên quan đến vắc xin – bác sĩ Hà cho biết thêm

Một số điều cần biết khi đưa con đi tiêm phòng vắc xin lao

Theo bác sĩ Lê Thị Phương Huệ (Bệnh viện Thanh Nhàn), thời điểm tiêm phòng lao cho trẻ thường trong vòng tháng đầu tiên kể từ khi sinh ra, tiêm càng sớm càng tốt. Mà khi tiêm phòng lao thường tiêm dưới ở da, không tiêm vào mạch máu, không tiêm vào các cơ nên không thể xảy ra các biến chứng như trường hợp trên.

Để tiêm phòng đảm bảo an toàn trước tiên bố mẹ cần biết rõ tình trạng sức khỏe của trẻ trước khi đi tiêm. Nếu trẻ đang có bệnh thì cần khai với bác sĩ để bác sĩ quyết định xem bé có cần hoãn tiêm không. Những trẻ có bệnh mãn tính thì cần tham khảo ý kiến của bác sĩ đang điều trị cho trẻ về việc khi nào có thể tiêm chủng và cơ sở y tế tiêm chủng thích hợp cho trẻ vì những trẻ này có khả năng bị phản ứng phụ nặng hơn trẻ khỏe mạnh, cần tiêm chủng ở nơi có đủ điều kiện cấp cứu. 

Việc trả lời cẩn thận các câu hỏi sàng lọc trước khi tiêm cũng rất quan trọng vì một số tình trạng dị ứng thuốc, thức ăn, dị tật bẩm sinh, các thuốc đang sử dụng hoặc việc truyền máu, globulin miễn dịch là chống chỉ định (không được tiêm) đối với một số vắc-xin.

Không nên tiêm phòng cho trẻ khi trẻ đang sốt, trẻ đang mắc 1 bệnh nhiễm khuẩn cấp tính (viêm phổi, thương hàn, sởi ...), trẻ mới khỏi các bệnh nói trên, còn đang trong thời kỳ hồi sức, trẻ đang bị viêm da mủ, hoặc bệnh chàm ngoài da (eczéma), trẻ sinh non còn quá yếu, quá thiếu cân...


Trước khi tiêm các bà mẹ không nên cho trẻ ăn, bú quá no, tuy nhiên cũng không để trẻ đói để tránh tình trạng trẻ bị hạ đường huyết sau khi tiêm. Cha mẹ nên vệ sinh thân thể cho bé sạch sẽ để hạn chế nhiễm trùng. Khi tiêm phòng, cần cho trẻ mặc trang phục đơn giản để giúp bác sĩ dễ thao tác trong quá trình khám, không mặc quần áo quá bó chặt, ủ ấm quá nhiều…

Khi tiêm, bố mẹ cần lưu ý theo dõi trẻ, sớm phát hiện những điểm bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời. Bố mẹ nên cho trẻ ở lại nơi tiêm chủng ít nhất 30 phút để theo dõi xem trẻ có những biểu hiện dị ứng với thuốc không. Về nhà, tiếp tục theo dõi trẻ trong vòng 24 đến 48 giờ sau tiêm. Nếu trẻ sốt trên 39 độ C, co giật, tím tái, khò khè, khó thở, khóc thét, khóc dai dẳng không dứt, bỏ bú, chỗ tiêm sưng to, tấy đỏ… thì bố mẹ cần đưa ngay trẻ đến bệnh viện hoặc cơ sở y tế gần nhất để được chăm sóc và điều trị.
 
Còn trường hợp nếu sau khi tiêm trẻ sốt nhẹ các mẹ cần lau mát cho trẻ bằng nước ấm và cho trẻ uống thuốc hạ sốt theo đúng hướng dẫn của nhân viên y tế. Nếu có sưng đau tại chỗ tiêm có thể chườm lạnh tại nơi tiêm bằng cách dùng khăn thấm nước lạnh sạch chườm vào chỗ tiêm. Cho trẻ bú mẹ, ăn uống bình thường, uống nước nhiều hơn. 

Các mẹ không xát chanh hoặc đắp bất kỳ loại thuốc nào vào chỗ tiêm vì có thể gây kích thích chỗ tiêm khiến bị sưng, đau và làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn cho vết tiêm. 

1-10 of 27