Chúng ta biết rằng có tới 80% người lớn sẽ bị đau thắt lưng , nhất là trong cuộc sống ngày nay đa số chạy theo công việc nên không còn thời gian để tập luyên và cho cột sống, cơ thể nghĩ ngơi. Khoảng 90% đau thắt lưng sẽ giảm và hết đi trong vòng 6 tuần lễ bất kể là có điều trị hay không

Cấu trúc cơ thể học của cột sống con người có 33 đốt: 7 đốt cổ, 12 đốt ngực, 5 đốt thắt lưng, 5 đốt cùng và 4 đốt cụt.

Tới khi trưởng thành, các đốt cùng và cụt dính lại với nhau, chỉ còn lại hai xương cùng và xương cụt.

Xương sống là trục chính của cơ thể, nâng đỡ sức nặng các phần ở bên trên của cơ thể là đầu, mình, hai tay.

Trong ống sống có tủy sống (spinal cord), tận cùng khoảng D12 – L1 sau đó là chùm dây thần kinh gọi là chùm đuôi ngựa, tương ứng với các lỏi liên sống có các đôi dây thần kinh chạy qua, có tất cả 32 đôi dây thần kinh tủy sống.

Cột sống có hình chữ S theo mặt phẳng dọc và thẳng đứng theo mặt phẳng trán. Thay đổi các độ cong này thì sẽ có các hình dạng như gù, ưỡn và vẹo cột sống.

      Các đốt xương sống được gắn kết với nhau bằng các dây chằng, chủ yêu dây chằng dọc trước, dọc sau và liên mấu gai sống. Trong đó, dây chằng dọc sau có các tế bào thần kinh nên khi bị chèn ép hoặc kéo giản sẽ gây đau. Ngoài ra, cột sống còn được bảo vệ và nâng đỡ bởi khối cơ quanh cột sống. Do đó có nhưng trường hợp gây đau lưng là do bệnh lý vùng cơ, dây chằng chứ không phải cột sống. Trong các trường hợp này chụp hình cột sống hoàn toàn bình thường.

Nằm giữa các đốt xương là một cấu trúc dẹp (đĩa liên sống) cấu tạo bằng chất collagen rất bền chắc dùng làm chất đệm cho đốt xương, chống đỡ với sức mạnh va chạm. Khi mới sanh, nước chiếm 80% thành phần cấu tạo đĩa và đĩa mềm sốp. Khi tuổi già đi thì nước trong đĩa khô dần gây thoái hóa đĩa sống. Vì đĩa không có mạch máu nuôi dưỡng, cho nên khi bị tổn thương thì không tự lành được.

        Đau lưng có thể chia làm 2 loại:

  • Đau lưng cấp: Thường xảy ra ở người trung niên, thường có nguyên nhân thực thể như chấn thương, có những động tác bất thường,viêm nhiễm ( lao cột sống ), co thắt cơ khi bị nhiễm lạnh,…
  • Đau lưng mãn tính : Có rất nhiều nguyên nhân như thoái hóa cột sống, thoái hóa loãng xương cột sống, viêm khớp liên sống, thoát vị đĩa đệm, bệnh lý u bướu bất thường vùng cột sống và tủy sống, bệnh lý di căn, bệnh lý nghề nghiệp, bất đối xứng chi dưới ( chân cao thấp mà không biết ),…

         Vấn đề chẩn đoán bệnh lý đau lưng :

1.        Khám lâm sàng : Xác định cơ chế gây đau, các bệnh lý sẵn có, tiền sử bệnh, các triệu chứng thực thể hiện tại,… Khám lâm sàng để xem giới hạn vận động cột sống, điểm đau nổi bật, các vùng rối loạn cảm giác và vận động của các dây thần kinh. Nếu khám lâm sàng kỹ và chính xác sẽ giúp chẩn đoán chính xác các nguyên nhân và hạn chế những chỉ định cận lâm sàng không cần thiết và cũng để có hướng điều trị thích hợp.

2.      Chụp hình x quang cột sống : Không thể thiếu được và là chỉ định cận lâm sàng đầu tiên. Trước hết để đánh giá có bất thường bẩm sinh hay tổn thương thấy được trên phim. Nhưng cần phải chụp phim đạt chuẩn mới đọc được hết các bệnh lý và nếu cần phải chụp thêm các tư thế bổ sung và chụp “ động “ như nghiêng phải, nghiêng trái, cúi, ngữa để chẩn đoán chính xác hơn.

3.       Chụp hình cộng hưởng từ ( MRI ) cột sống : Đây là kỹ thuật mới và hoàn hảo để chẩn đoán các bệnh lý cột sống. Nhưng cần phải có máy đạt tiêu chuẩn, chụp đúng tiêu chuẩn và đúng chuyên gia chẩn đoán hình ảnh đọc mới có khả năng chẩn đoán chính xác các bệnh lý vùng cột sống. Trong một số trường hợp thì cần phải chụp bổ sung bằng bơm thuốc cản từ để thấy được một số tổn thương rõ hơn.

4.      Chụp hình cắt lớp điện toán đa lát cắt ( MSCT ) : Với kỹ thuật mới, với hình ảnh tái tạo hoàn hảo nên ngày nay cũng được ứng dụng nhiều trong bệnh lý cột sống. Điểm khác biệt với MRI là khả năng chẩn đoán những viêm nhiễm sớm kém nhạy cảm hơn chụp MRI.

5.      Đo điện cơ ( EMG ): Góp phần chẩn đoán chính xác vị trí tổn thương của dây thần kinh, nhất là các trường hợp các phương tiện chẩn đoán trên bình thường.


Vấn đề điều trị bệnh lý đau lưng:

 Tùy thuộc hoàn toàn vào nguyên nhân, muốn điều trị hiệu quả cần phải điều trị từ nguyên nhân chứ không thể chỉ điều trị triệu chứng, do đó cần phải “ CHẨN ĐOÁN CHÍNH XÁC ”   trước khi điều trị. Thà  “ TỐN TIỀN CHÍNH ĐÁNG ” một lần còn hơn là điều trị theo suy đoán và điều trị triệu chứng.

 

1.      Đau lưng cấp do nguyên nhân cơ học rõ ràng, ví dụ như nâng vật nặng, chơi thể thao,… Thường do căng cơ hoặc thoát vị đĩa đệm. Điều quan trọng nhất là cần cho người bệnh nằm bất động tại giường có phản cứng, không được nằm giường lò xo, nằm ngửa, hai chân hơi co và đệm gối nhỏ dưới kheo chân. Tránh vận động đột ngột. Uống thuốc giảm đau và chống co thắt kèm chườm lạnh bằng khăn lạnh để sau lưng trong vòng 12 giờ đầu để giảm đau, sau đó chuyển sang chườm nóng để giãn cơ. Theo nghiên cứu mới nhất thì tránh nằm bất động quá lâu, khi đã giảm đau thì cần cử động nhẹ nhàng, xoay nhẹ khớp hông theo chiều và ngược chiều kim đồng hồ để thư giãn dần khối cơ, rồi tiếp tục thử nhẹ nhàng các động tác cúi, ngửa, nghiêng phải, nghiêng trái. Nếu cơn đau không thuyên giảm và ngày càng năng nề hơn thì cần phải tiến hành các phương pháp chẩn đoán trên.

 

2.      Đau lưng mãn tính  : Điều trị hiệu quả hay không là tùy thuộc vào chẩn đoán được nguyên nhân.

a.       Các nguyên nhân do thoái hóa cột sống, đĩa đệm, loãng xương thì thường không cần phải dùng các thuốc kháng viêm mà chỉ cần giảm đau thường như Paracetamol, Analgine,… kết hợp với vật lý trị liệu nhẹ nhàng và tập luyên thể dục thường xuyên. Bồi dưỡng calci, các chất khoáng,…

b.      Các nguyên nhân do viêm khớp liên sống, viêm bao rễ dây thần kinh thì có thể uống thuốc kháng viêm hoặc tiêm thuốc kháng viêm tại chỗ,..

c.       Các nguyên nhân thực thể không thể hồi phục bằng điều trị thông thường như thoát vị đĩa đệm nặng chèn ép, trượt thân sống, u chèn ép thì bắt buộc phải mỗ. Ngày nay, với kỹ thuật vi phẩu thuật, phẩu thuật laser mang lại kết quả điều trị rất tốt cho các bệnh lý này, nhưng vấn đề cần quan tâm là vật lý trị liệu sau mỗ phải được tích cực chăm sóc Chỉ định mỗ chỉ được đặt ra khi có chẩn đoán chính xác.


        Vấn đề phòng ngừa
        Vấn đề phòng ngừa có hai giai đoạn: Phòng ngừa sớm để hạn chế  thoái hóa và các bệnh lý cột sống, phòng ngừa để diễn tiến bệnh không nặng hơn khi đã bị bệnh lý cột sống.

        Chúng ta cần phòng ngừa sớm bằng cách kiểm tra sức khỏe định kỳ, thường xuyên tập luyện thể thao, rèn luyên cơ thể khỏe mạnh, chế độ sinh hoạt và làm việc hợp lý. Một             quan niệm sai lầm chúng ta cần tránh là làm việc nhiều mỗi ngày và chơi thể thao là đủ, nhưng chúng ta cần biết rằng có những môn thể thao thích hợp cho cột sống như bơi lội,         thể dục nhịp điệu và có những môn thể thao không có tác động lên côt sống như tennis, cầu lông, bóng chuyền, chạy, đi bộ nhanh thì chúng ta cần phải tập thêm xem như làm             nóng các động tác riêng cho cột sống như xoay, cúi,  ngửa, nghiêng,..

         
Một vấn đề chúng ta cũng cần lưu ý là chớ coi bệnh lý đau cột sống là chuyện “THƯỜNG NGÀY Ở HUYỆN”  mà phải khi khám để được chẩn đoán chính xác và loại trừ các                 nguyên nhân nặng nề như ung thư, lao cột sống,…
            
         Ngoài ra dể đề phòng thoái hóa đĩa sống thì Glucosamine, Chondroitine, MSM cũng góp phần rất quan trọng để duy trì độ mềm dẻo và chắc chắn của các đĩa sống và hệ dây                 chằng quanh cột sống cũng như bề mặt các khớp liên sống.

BS Trương Hiếu Nghĩa