I/ MỞ ĐẦU : Thông thường suy hô hấp sơ sinh được xếp theo các cơ chế sau:

1/ Sự nghẽn tắc thông khí của đường hô hấp trên, gây ra khó thở cao.

2/ Những rối loạn cơ học của bộ máy hô hấp, kết hợp với bất thường hệ điều hành thần kinh hay cơ hô hấp do rối loạn xuất phát từ thần kinh trung ương hay ngoại biên.

3/ Những trở ngại gây khó khăn cho sự giãn nở của phổi do chèn ép bên trong lồng ngực: tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất, phù mô kẽ chèn ép, khí phế thủng lớn, kén khí lớn hay thoát vị hoành,... Trong vài trường hợp, chèn ép phổi do nguyên nhân dưới hoành như u bụng, dịch ổ bụng, ruột chướng hơi...

4/ Bệnh lý chủ mô phổi :

- Xẹp phế nang do bệnh lý màng trong.

- Nghẽn tắc và tràn dịch trong phổi do hít nước ối.

- Suy hô hấp thoáng qua.

- Viêm phổi.

- Xuất huyết phổi.

- Bệnh Wilson và Wikity

- Bệnh do giúp thở.

5/ Một số bệnh lý tim mạch : Đăc biệt do tăng áp suất tĩnh mạch phổi như bất thường tĩnh mạch trở về tim. Các bệnh lý khác như giãn mạch bạch huyết phổi (Lymphangiectasia ) hoặc thiếu máu trầm trọng trong giai đoạn cuối.=

II/ PHÂN TÍCH TRIỆU CHỨNG X QUANG :

1/ Đánh giá tuổi, bên (P), (T), và vị trí các sonde nếu có.

2/ Đánh giá hình ảnh ổ bụng:

            - Hình ảnh và vi trí hơi trong ruột. Chú ý khi thở oxy 100% thì có thể không thấy hơi trong ruột.

            - Trong trường hợp khác nếu mờ hoàn toàn ổ bụng có thể do:

                        + Teo thực quản bẩm sinh không có dò.

                        + Thoát vị hoành với sự di chuyển của ống tiêu hóa vào trong lồng ngực.

 

Hình 1: Suy hô hấp với tổn thương:
mờ dạng phế nang lan tỏa tương ứng với nhiễm Listeriose. Bụng hoàn toàn mờ vì hình ảnh chụp lúc 30 phút sau sinh. Không có nuốt khí.
 

Hình 2: Hình chụp sau sinh 24 giờ.
 Suy hố hấp trung bình. Quá sáng phổi hai bên với mờ phế nang kín đáo. Không có khí trong bụng cho phép chẩn đoán hẹp thực quản không có dò đoạn dưới. Các bất thường phổi chỉ là fausses routes. 

3/ Đánh giá lồng ngực : Tìm:

          - Bất thường xương sườn : xương sườn ngắn, hay thiếu xương sườn.

          - Sự mảnh khảnh (Gracilité) xương sườn: Gây ra loạn sản lồng ngực.

          - Biến dạng lồng ngực: Rất quan trọng. Lồng ngực hẹp trên và phình dưới gây ra hậu quả chức năng hoạt động của cơ.

          - Dày của các phần mềm: Phải được xem xét, dày đối xứng được gây ra bởi một quá tải “ ứ dịch “, ví dụ mẹ bị tiểu đường.

          - Quan sát đánh giá cột sống, xương đòn, xương cánh tay.

4/ Đánh giá bên trong lồng ngực: Được hệ thống theo 5 tính năng:

a/ Mờ toàn lồng ngực: Không có hơi trong lồng ngực, trừ khí quản và phế quản gốc. Thường xảy ra đối với:

- Tràn dịch màng phổi hai bên .

          - Xẹp phổi hai bên: Xẹp phế nang thường do:

                   + Nghẽn tắc đường hô hấp trên hay khí quản là trường hợp cấp cứu khẩn cấp.

                   + Bệnh lý màng trong state IV, cần thiết thở dưới áp lực dương.

                   + Hít phân su lượng nhiều, ít gặp.

                   + Thông thường nhất, dạng này được thấy ở trẻ sơ sinh thở oxy toàn phần, oxy được hấp thu hoàn toàn và không làm giãn chủ mô phổi.

          Thở máy áp lực dương thường cho phép đạt được sự trong sáng chủ mô phổi, tạo sự tương phản khi phân tích triệu chứng tốt hơn.
 

Hình 3: Phim chụp 12 giờ sau sinh. Suy hô hấp được điều trị với thở máy oxy toàn phần. Có ống thông dạ dày, ống nội khí quản, cathéter tĩnh mạch rốn đúng vị trí. Hoàn toàn không có khí trong lống ngực loại trừ khí quản và phế quản chính. Bệnh nhân bị bệnh màng trong giai đoạn IV.
 

Hình 4: Suy hô hấp với di lệch trung thất.Trục của khí quản và ống thông dạ dày bị đẩy lệch qua phải, bóng tim nằm nửa lống ngực bên phải, nhưng vòm hoành bên (P) vẫn thấy rõ và còn một phần nhu mô phổi có thông khí ở góc sườn hoành (P). Thấy một ít hình ảnh mờ mạch máu phổi sau bóng tim. Lồng ngực bên (T) tăng thể tích và tăng thông khí chứng tỏ có tổn thương expansive.

b/ Di lệch trung thất:

          Đánh giá sự di lệch ở trẻ sơ sinh có suy hô hấp rất quan trọng vì hầu hết  suy hô hấp kèm di lệch trung thất là hình ảnh cần điều trị cấp cứu để dẫn lưu dịch màng phổi hoặc cần sự can thiệp ngoại khoa.                   

          Sự di lệch trung thất được nhận biết chủ yếu trên sự di lệch của khí quản. Sự di lệch này thường kèm theo hình ảnh mờ hoặc quá sáng bên đối diện trong trường hợp tràn dịch hoặc tràn khí màng phổi hay khí phế thủng hay thoát vị hoành. Nếu sự di lệch kèm theo mờ cùng bên do co kéo là do xẹp phổi hoàn toàn hoặc bất sản phổi.

          Trong vài trường hợp  khác trung thất nằm đúng vị trí bình thường và nhu mô phổi cũng bình thường nhưng có:            

                   - Sự nâng cao vòm hoành: Hai bên có thể do liệt cơ hoành hoặc bướu ở bụng đẩy vòm hoành lên cao, một bên thường do liệt hay yếu cơ hoành.

                   - Bất thường trung thất.

                             * Nở rộng và biến dạng do u trung thất, bệnh lý tim.

                             * Hẹp và bờ sáng do tràn khí màng phổi 2 bên, tràn khí trung thất...

           
 Hình 5: Phim chụp 24 giờ sau sinh. Suy hô hấp do giảm thể tích phổi. Vòm hoành hai bên bị đẩy lên rất cao do có một khối choán chỗ  trong ổ bụng và các quai ruột bên (T) bị đẩy lên cao.                    

c /  Mờ nhu mô phổi lan tỏa: Là bệnh lý thường thấy nhất trong suy hô hấp sơ sinh. Phân tích hình ảnh chủ mô phổi phải so sánh với thể tích phổi.

          c.1 /  Xóa mờ mạch máu: Giới hạn của mạch máu khó thấy hay biến mất. Đồng dạng hai phế trường, thường gặp trong các trường hợp sau:

                   - Tràn dịch mô kẽ.

                   - Tràn dịch phế nang lượng ít.

                   - Xẹp phế nang không hoàn toàn.

          Phim chụp thì thở ra : Xác định thể tích phổi, cho phép phân biệt tràn dịch hoặc co kéo do xẹp phế nang.

 
 
 

Hình 6: A, hình chụp 3 giờ sau sinh. Mờ hoàn toàn hai phế trường, không giảm thể tích phổi. Đặt ống nội khí quản ra một lượng dịch rất lớn. B, phim chụp 48 giờ sau sinh thấy một khối trong trung thất (P)  và kéo ống thông dạ dày vế bên (P) . C, trên phim nghiêng thấy khối mờ ở phía sau và đẩy ống nội khí quản ra trước. Thực quản đôi chèn ép vào khí quản và cản trở sự tái hấp thu dịch phế nang.
                                                                                                     

        c.2/  Mờ dạng sợi dải:  Là những đường mờ nhỏ, giới hạn rõ, dài và không cùng kích thước lan tỏa trong phổi. Nó có thể được kết hợp  với dày vách được biểu  hiện được bằng đường Kerley.

          Thường thấy trong các trường hợp suy hô hấp thoáng qua, tăng áp lực tĩnh mạch phổi, phù mô kẽ. Dạng này cũng thấy trong hít phân su, chứng Wilson - Milkity và bệnh giúp thở ( Ventilé ).

          Khi hình ảnh này dài, dày và trải dài đều vùng ngoại biên, thường gặp trong xẹp phổi tiểu thùy hoặc dưới phân thùy.

          c.3/  Mờ dạng hạt ( Opacites miliaires ) : Nốt mờ giới hạn rõ giữa những mạng lưới khí ,thường gặp trong viêm phổi mô kẽ.

          c.4 /  Bóng mờ không rõ (Flous): Mờ phế nang lan tỏa, thấy trong bệnh cảnh suy hô hấp thoáng qua, hít nước ối hoặc phân su, xuất huyết phổi, viêm phôi, dò khí-thực quản, tăng áp tĩnh mạch phổi.

Hình 7: Cung đôi động mạch chủ. Suy hô hấp nhẹ A, phim nghiêng thấy khí quản bị đẩy vòng ra phía trước và giảm khẩu kính. B chụp thực quản cản quang xác định hình ảnh chèn ép đôi do cung đôi động mạch chủ. 

 

Hình 8: Mờ chủ mô lan tỏa với mờ  mách máu phổi ( bệnh màng trong giai đoạn I). Mờ hạt lưới khó thấy.
 

Hình 9: Mờ dạng sợi tương ứng với dày vách mô kẽ và dưới màng phổi. Vài bóng mờ dạng sợi thấy rõ. Suy hô hấp do chậm hấp thu dịch phế nang.

                c.5/  Mờ dạng nốt lưới  (Reticulonodulaire): Đặc biệt trong bệnh lý màng trong, thường kèm theo hình ảnh Air bronchogramme, hay giảm thể tích phổi.

Hình 10: Mờ dạng sợi bắt cheó và chồng lên nhau tương ứng với phù mô kẽ chèn ép. Khí nằm trong mô kẽ. Mờ dạng sợi do xẹp chủ mô.     




Hình 11: Mờ dạng sợi do xẹp chủ mô dạng băng (bande ). Các bóng mờ dạng sợi thì rất rộng, trãi dài đến ngoại biên và có hướng dạng tia lan từ rốn phổi. Như các dạng xẹp phổi, sự quá sáng hai bên do nghẽn tắc nhiều tiểu phế quản.


Hình 12: mờ dạng hạt lan toả tương ứng
với phù mô kẽ giai đoạn sớm.


Hình 13
: Mờ phế nang lan tỏa với giới hạn mờ và tập trung. bất đối xứng các tổn thương giữa hai phế trường. Hít nước ối.            
                                                                 
                                                

            c.6/  Thể tích phổi: Đánh giá dựa vào :

          - Hình thẳng :

              *  Vị trí vòm hoành và hình dạng vòm hoành.

              *  Khoảng cách giửa bờ trước khung sườn và đường giữa.

              *  Độ nở rộng của khe liên sườn.  

          - Hình nghiêng :

              *  Hình dạng vòm hoành.

              *  Độ sâu trước - sau của lồng ngực.

          -Giảm thể tích phổi gặp trong:

              *  Xẹp phổi.

              *  Bất hoặc thiểu sản phổi.

              *  Bệnh lý màng trong.

              *  Phù mô kẻ.

          -Thể tích phổi bình thường:

              *  Tăng áp tĩnh mạch phổi.

              *  Xuất huyết phổi.

              *  Nhiễm trùng phổi.

          - Tăng sáng hai bên gặp trong :

              *  Tràn khí màng phổi, khí phế thủng.

              *  Phù phổi kẽ 2 bên do khí.

              *  De Wilson - Milkity.

              *  Giúp thở.

              *  Bệnh tim mạch.

 

KẾT LUẬN : Suy hô hấp ở trẻ sơ sinh là một bệnh cảnh nặng, cần điều trị cấp cứu. Các nguyên nhân có thể được khái quát theo sơ đồ sau đây :

NGUYÊN NHÂN SUY HÔ HẤP Ở TRẺ SƠ SINH:

          *  X QUANG PHỔI BÌNH THƯỜNG:

                   ®  Nguyên nhân thần kinh.

                   ®  Nguyên nhân sinh học.

                   ®  Bệnh đường hô hấp trên.

                   ®  Bệnh trung thất ( khí quản ) ® chụp thực quản cản quang. 

* X QUANG PHỔI BẤT THƯỜNG:

Di lệch trung thất
- Tràn dịch màng phổi
- Phù mô kẻ      
- Thoát vị hoành
- Khí phế thủng thùy lớn
- Bóng khí phế thủng
- Liệt hoành
- Bất sản phổi
- Xẹp phổi

 Bệnh chủ mô phổi
-Suy hô hấp thoáng qua.    
-Bệnh màng trong
-Viêm phổi hít
-Nhiểm trùng
- Xuất huyết phổi
- Wilson - Mikity
- Bệnh do giúp thở.
- Bất thường TM về tim.
- Lymphangiectasie.