Lồng ruột do lồng các quai ruột bên trên vào trong lòng quai ruột bên dưới.

Thường gặp ở trẻ nhỏ ( 80% từ  6 tháng – 2 tuổi), nam nhiều hơn nữ (3 nam 1 nữ ).

Thường không có nguyên nhân hơn 90 %, và có tính chất theo “mùa” .

             Lồng ruột có thể thứ phát ( thường gặp lứa tuổi < 3 tháng hoặc > 5 tuổi ) do các nguyên nhân thực thể và có thể tái phát. Các nguyên nhân thường thấy :

-          Lymphoma đường tiêu hóa

-          Túi thừa Meckel

-          Ruột đôi

-          Adénome hoặc polype

-          Xuất huyết dạng thấp ( Purpura rhumatoide)

-          Rối loạn chức năng sau phẫu thuật.

-          Mucoviscidose.

              Dạng hồi- đại tràng thường gặp nhất và các dạng khác có thể gặp như hồi - hồi tràng, hồi- hồi đại tràng, đại- đại tràng. Chú ý dạng hồi- hồi tràng có thể thoáng qua và tái phát từng đợt gây bệnh cảnh đau bụng mãn tính ở trẻ em.

              Đây là bệnh cảnh cấp cứu trong chẩn đoán và điều trị, chẩn đoán sớm và điều trị sẽ dễ dàng, không biến chứng, nhất là dạng lồng ruột có “cổ rộng”. Chẩn đoán trễ có thể gây tắc mạch đưa đến hoại tử khối lồng và tắc ruột, viêm phúc mạc, …

 

Lâm sàng:

          -    Đau bụng đột ngột kèm ói và có cơn khóc thét.

          -   Tam chứng: đau bụng kịch phát + nôn ói và tiêu máu. Ngày nay ít gặp do đa số được chẩn đoán sớm qua siêu âm.

          -  Có thể có các dạng gây chẩn đoán lầm lẫn: ngộ độc, tiêu chảy, tắc ruột, hay đôi khi có hội chứng khối u (u, viêm)

          -    Khám lâm sàng có thể sờ được khối lồng dưới dạng bầu dục, chắc, thường nằm vùng dưới gan.

Chẩn đoán hình ảnh:

              Phim chụp bụng không sửa soạn tư thế nằm ngữa và đứng nếu cần:

-      Khối mờ vùng dưới gan, có thể có hơi bao quanh một phần.

-      Hình ảnh tập trung các quai ruột non vào vùng dưới gan.

-     Không thấy bóng manh tràng ở vị trí bình thường.

-     Hình ảnh tắc ruột trong giai đoạn trễ, có thể kết hợp phim chụp đứng.


Lồng ruột được chẩn đoán trên phim chụp bụng không sữa soạn ở TƯ THẾ CHỤP NẰM NGỮA, 

và được xác định trên phim chụp đại tràng cản quang.

Siêu âm:

              Khảo sát toàn bộ và tổng quát ổ bụng.

              Hình ảnh đặc trưng của khối lồng:

            - Mặt cắt ngang khối lồng: hình bia hoặc dạng võ củ hành, đường kính thường # 2-3 cm

                   - Mặt cắt dọc khối lồng: dạng hình sandwich hoặc hình giả thận .

              Khi thấy được cấu trúc nhiều lớp hoặc thấy được hình ảnh tưới máu bên trong khối lồng chứng tỏ chưa có biến chứng phù nề và hoại tử khối lồng, tiên lượng điều trị tốt.

              Các dấu hiệu khác:

  • Dãn các quai ruột trên khối lồng.
  • Dịch tự do ổ bụng
  •  Hạch mạc treo hoặc u ruột (polype, adénome)

              Các vấn đề siêu âm:

   Dạng hồi- hồi tràng đôi khi bỏ xót do khối lồng nhỏ và di động.

    Chẩn đoán đôi khi khó khăn do kèm các bệnh cảnh khác như bệnh viêm đường hô hấp, tiêu chảy, viêm dãn thành ruột khu trú,…

   Giai đoạn trễ có biến chứng bán tắc hoặc tắc ruột gây khó khăn cho chẩn đoán siêu âm do có nhiều hơi trong các quai ruột.

              Trong các trường hợp nghi ngờ cần kết hợp với chụp đại tràng cản quang ( thuốc cản quang hoặc hơi) hoặc CT ổ bụng.

              Chụp đại tràng cản quang:

Chống chỉ định:  tình trạng sốc, dấu viêm phúc mạc.

Ø      Khi bệnh cảnh lâm sàng hơn 48 giờ thì cần dè dặt (cần khảo sát siêu âm trước).

Ø      Kỹ thuật được thực hiện theo từng trường phái: bơm hơi hoặc thuốc cản quang tan trong nước nồng độ thấp hoặc baryte.

Ø      Nguy cơ thủng # 1/ 1000.

Ø      Bơm hơi và thuốc cản quang qua ống thông trực tràng với áp lực từ 100 – 120 mmHg  ( độ cao 1,2 mm) và theo dõi trên máy soi.

              Các dạng khối lồng: Hình dạng càng cua hoặc hình đáy chai, nằm ở đại tràng ngang dưới gan trong đa số trường hợp.

CT ổ bụng:

              Chỉ được chỉ định khi tối cần thiết và nghi ngờ với các bệnh khác.

              Khối mờ đậm độ mô thấy được với các mặt cắt vùng dưới gan và bắt thuốc cản quang trong các thành, thấy rõ được cấu trúc từng lớp của khối lồng

Điều trị:

              Có rất nhiều trường phái trong điều trị khối lồng: Tháo lồng bằng hơi hoặc thuốc cản quang dưới màng soi, tháo lồng bằng nước dưới hướng dẫn của siêu âm.

              Phương pháp tháo lồng được thực hiện tại phòng mổ với tháo lồng bằng hơi sau khi được gây mê nhẹ dưới áp lực từ 100 – 120 mmHg có nhiều ưu điểm:

              Bệnh nhân được gây mê “thư giản” hoàn toàn nên tránh được tăng áp lực trong ổ bụng khi tháo.

              Giảm được sự co thắt của ruột làm tiến trình tháo lồng dễ dàng hơn.

              Tiến trình điều trị được đánh giá trên sự giảm áp lực dần dần trên dụng cụ  tháo lồng.

              Bệnh nhi được kiễm tra qua siêu âm sau khi đã hồi tỉnh.

Vấn đề kiểm tra siêu âm sau tháo lồng bằng hơi:

              Hơi còn nhiều trong các quai ruột có thể gây trở ngại nếu còn lồng hồi – hồi tràng.

              Phù nề vùng manh tràng – van Bauhin có hình ảnh giống như khối lồng --> cần theo dõi để xác định.

              Trường hợp tồn tại khối lồng trên siêu âm và đánh giá thất bại trong quá trình tháo thì thường do nguyên nhân thực thể hoặc do khối lồng phù nề (nhất là dạng “ cổ nhỏ” thì cần can thiệp ngoại khoa).