Tin mới

  • X QUANG PHỔI I. KỸ THUẬT: Đối với x quang phổi, kỹ thuật chụp chiếm tầm quan trọng rất lớn để tạo hình ảnh chẩn, từ đó việc chẩn đoán x quang sẽ ...
    Được đăng 19:07, 13 thg 4, 2014 bởi Hieu Nghia
  • BỆNH LÝ TEO THỰC QUẢN BẨM SINH Ở TRẺ SƠ SINH [XQuang] - Teo thực quản là bệnh lý bất thường bẩm sinh thường gặp nhất của thực quản ( 1/ 5000 trẻ sơ sinh )- Là bệnh cảnh cấp cứu ngoại khoa.- Có thể ...
    Được đăng 18:36, 13 thg 4, 2014 bởi Hieu Nghia
  • SUY HÔ HẤP SƠ SINH [X QUANG] I/ MỞ ĐẦU : Thông thường suy hô hấp sơ sinh được xếp theo các cơ chế sau: 1/ Sự nghẽn tắc thông khí của đường hô hấp trên, gây ra ...
    Được đăng 20:25, 9 thg 4, 2014 bởi Hieu Nghia
  • CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH TRONG BỆNH LÝ NHIỂM TRÙNG TIỂU TRẺ EM [XQuang] 1/. Siêu âm:            - Đánh giá hình thái, cấu trúc siêu âm, kích thước bộ niệu.            - Các hình ảnh bệnh lý như: thận ứ nước, bất thường bẩm sinh ( thận đa ...
    Được đăng 19:33, 9 thg 4, 2014 bởi Hieu Nghia
  • LỒNG RUỘT CẤP [XQuang] Lồng ruột do lồng các quai ruột bên trên vào trong lòng quai ruột bên dưới. Thường gặp ở trẻ nhỏ ( 80% từ  6 tháng – 2 tuổi), nam nhiều hơn ...
    Được đăng 21:11, 6 thg 4, 2014 bởi Hieu Nghia
  • CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH LAO PHỔI TRẺ EM [X Quang] 1/. Lao sơ nhiểm: Có các dạng -          Hình ảnh X quang phổi bình thường. -          Hạch rốn phổi 1 hoặc 2 bên hoặc cả hai hoặc hạch vùng cạnh (P) khí ...
    Được đăng 21:03, 6 thg 4, 2014 bởi Hieu Nghia
  • BỆNH HỌC X QUANG PHỔI TRẺ EM - P3 [X Quang] VIII/. Ap xe phổi:-          Trước khi khạc mũ : hình ảnh mờ đông đặc, bờ không rõ-          Sau khạc mủ : mức định khí dịch, thành hơn dày, mặt trong đều       Abcès ...
    Được đăng 20:39, 6 thg 4, 2014 bởi Hieu Nghia
  • BỆNH HỌC X QUANG PHỔI TRẺ EM - P2 [X Quang] VI / Viêm phổi thùy: - Hội chứng phế nang chiếm toàn bộ phân thùy hoặc toàn bộ thùy, bờ là rãnh liên thùy.- Khí quản đồ [Bronchogramme ] (+) hoặc phế nang đồ ...
    Được đăng 20:39, 6 thg 4, 2014 bởi Hieu Nghia
  • BỆNH HỌC X QUANG PHỔI TRẺ EM - P1 [X Quang] I/ Viêm phế quản-          Hình ảnh dày thành phế quản dạng đường ray (En rail) ở vùng quanh rốn phổi và hai đáy phổi.-          Xoá mờ các mạch máu phổi ...
    Được đăng 20:30, 6 thg 4, 2014 bởi Hieu Nghia
  • BỆNH LÝ ĐƯỜNG MẬT Ở TRẺ EM [XQuang] Chia 3 nhóm: §      Tổn thương ngoàigan §      Tổn thương trong gan §      Tổn thương cả hai 1. Tổn thương ngoài gan: 1.1 Nang ống mật chủ (OMC): §      Nang bẩm sinh của ...
    Được đăng 19:20, 6 thg 4, 2014 bởi Hieu Nghia
Hiển thị bài đăng 1 - 10trong tổng số 11. Xem nội dung khác »

X QUANG PHỔI

đăng 19:06, 13 thg 4, 2014 bởi Hieu Nghia   [ đã cập nhật 19:07, 13 thg 4, 2014 ]

I. KỸ THUẬT: Đối với x quang phổi, kỹ thuật chụp chiếm tầm quan trọng rất lớn để tạo hình ảnh chẩn, từ đó việc chẩn đoán x quang sẽ dễ dàng và chính xác hơn.

1/. Hình thẳng : được thực hiện chủ yếu với tư thế sau – trước (P.A) và hít vào sâu. Nhưng đối với trẻ nhỏ, thường chụp tư thế trước sau ( A.P) => bóng tim to bè so với lồng ngực và thì hô hấp không chẩn => khác nhau giữa các hình chụp.

Hít vào đủ sâu khi vòm hoành (P) nằm ngang cung trước xương sườn thứ 6 hoặc khe liên sườn thứ 9 phía sau.

Hai kỹ thuật được dùng: yếu tố cao và yếu tố thấp .

  - Yếu tố thấp( KV vừa, MAS cao): hình sắc nét, đen và trắng tương phản rõ.

  - Yếu tố cao (KV cao, MAS thấp ): hình tương phản vừa thấy được hình ảnh mạch máu sau bóng tim và hoành, được cấu trúc vùng trung thất.

2/. Hình nghiêng: bổ xung cho hình thẳng cấu trúc phế trường nằm sát phim thấy rõ.

3/. Các tư thế bổ xung :

- Nghiêng xéo (Oblique): chủ yếu để đánh giá các mạch máu hoặc u vùng trung thất hoặc cạnh trung thất.

- Hình chụp thì thở ra: ích lợi trong chẩn đoán dị vật đường thở, tràn khí màng phổi lượng ít, khí phế thủng, rối loạn thông khí, bệnh lý cơ hoành.

- Những hình chụp bệnh nhân nằm nghiêng tia ngang: để chẩn đoán tràn dịch màng phổi lượng ít.

- Tư thế ưởn đỉnh: để thấy cấu trúc bất thường vùng đỉnh phổi.

- Chụp phổi kèm thực quản cản quang: để đánh giá trung thất giữa và sau.

4/. Soi : bổ xung để đánh giá sự di động của vòm hoành và biên độ đập của tim

5/. Một số kỹ thuật cao :

a)     Chụp cắt lớp ( Tomographie):

- Chụp cắt lớp thường : để chẩn đoán các u phổi. Ngày nay giới hạn sử dụng vì lượng nhiễm xạ cao.

- Chụp cắt lớp điện toán (TDM): rất tốt để chẩn đoán bệnh lý u ở lồng ngực, nhất là bệnh lý mô kẽ, mạch máu,…

- Khí quản cản quang.

b)    Mạch máu cản quang: giúp cho chẩn đoán các bất thường về mạch máu phổi hoặc trong các trường hợp khác ra máu do bất thường động mạch phế quản. Có thể kết hợp điều trị can thiệp.

c)     Xạ hình phổi (Scintigraphie): góp phần chẩn đoán trong các bệnh lý đặc biệt của phổi.

d)    Chụp cộng hưởng từ (IRM): ngày này đựơc ứng dụng ngày càng rộng rãi trong bệnh lý vùng trung thất, tim mạch và u phổi.

6/. Liều nhiễm xạ :

- Chụp yếu tố cao: nhiễm xạ tối thiểu.

-  Soi / 1phút > 10 lần chụp cắt lớp > 100 lần x quang thường.


II.CƠ THỂ HỌC X QUANG BÌNH THƯỜNG

1/.Khí quản và phế quản gốc :

- Hình thẳng : khí quản thẳng giữa lồngngực hoặc thường chếch nhẹ sang (P) ở trẻ nhỏ, đến D5  chia 2 nhánh tạo 1 góc từ 45 – 70O . Phế quản gốc (P) tương đối thẳng và ngắn so với bên (T). phế quản gốc (T) chếch nhẹ về sau.

- Hình nghiêng : khí quản thấy rõ, chếch xuống dưới và ra sau từ đoạn đi vào lồng ngực. Phế quản gốc (P) gần như đi theo chiều khí quản, phế quản gốc (T) gần như nằm ngang, có dạng tròn hoặc bầu dục, nằm chồng lên phần đầu của phế quản gốc (P) và vượt một ít ra sau.

2/.Thùy và phân thùy phổi.

Phải : 

 Thùy trên Thùy giữa Thuỳ dưới

Phân thùy đỉnh 1
Phân thùy lưng 2
Phân thùy trước 3

 Phân thùy bên 4
Phân thùy giữa 5

Phân thùy đĩnh (Nelson) 6
Phân thùy cạnh tim 7
Phân thùy trước 8
Phân thùy bên 9 

Trái :

 Thùy trên Thùy giữa Thùy dưới
 Phân thuỳ đỉnh trên sau 1-2
Phân thuỳ trước 3
 Phân thùy bên 4
Phân thuỳ dưới 5
 Phân thùy đĩnh 6
Phân thuỳ trước 8

Phân thuỳ bên 9
Phân thuỳ sau 10
 
 
 

Hình chụp tư thế AP và nghiêng (T): bình thường.

3/.Mạch máu phổi :

- Thân động mạch phổi nằm ở trung thất chỉ thấy bờ (T) và tạo cung giữa (T). chia hai nhánh, nhánh (P) ngang và chếch nhẹ xuống thấp, nó hoàn toàn nằm trong trung thất và ở rốn phổi nó chia hai nhánh chính: trên và dưới. Động mạch phổi (T) lớn hơn, theo hướng lên và ra sau để đến rốn phổi (T). Rốn phổi (T) cao hơn rốn phổi (P).

- Các động mạch nhánh dọc vào phổi theo đúng các nhánh phế quản. Các mao mạch phế nang để trao đổi khí và trở về bằng bốn tĩnh mạch phổi đổ vào nhỉ (T).

- Ơ tư thế đứng, sự phân phối các mạch máu phổi giảm từ đỉnh  đến đáy phổi theo tỉ lệ 1/3 trên giữa và dưới.

4/. Nhu mô phổi:

- Cấu trúc cơ bản của phổi và chức năng của phổi giảm là các tiểu thùy thứ cấp (Lobule pulmonaire secondaire)

- Phế quản có chứa sụn ở thành, tiểu phế quản không có.

- Sự  phân chia phế quản theo cách phân đôi.

- Tiểu thùy thứ cấp là đơn vị tương quan với bệnh học xquang phổi. Đường kính của nó 0,3 – 3 cm ở người lớn.

5/ Cơ hoành: Vòm hoành (P) cao hơn hoành (T) < 3 cm. Có thể có dạng nhiều cung, nhất là ở trẻ em. Hình chụp nghiêng (P) 2 hoành nằm song song, nghiêng (T) hai hoành cắt nhau.

6/. Thành ngực: Các cung sườn, các cơ thành ngực, bóng vú có thể tạo nên các xảo ảnh  ( Artefact) trên phim.

1.    Bờ nhĩ (P)
2.    Bờ thất (T)
3.    Thân ĐM phổi
4.    ĐM phổi (T)
5.    Khớp ức đòn
6.    Khí quản
7.    ĐM phổi (P)
8.    TM Azigos
9.    Bờ TM chủ trên
10.  Cán xương ức
11.  Xương đòn
12.  Bóng vú  
13.  Bóng hơi dạ dày
14.  Vòm hoành (P)
15.  Bờ cạnh thực quản
16.  Quai ĐM chủ
17.  Phế quản thùy dưới (P)
18.  Rãnh liên thùy bé
19.  Bờ cơ ức đòn chủm

7/. Trung thất : chứa nhiều cơ quan : Tim mạch máu lớn khí – phế quản, thự quản, dây thần kinh, hạch, chuổi ngực, thymus
Quan trọng, chú ý các đường trung thất.
1. Đường trung thất sau.
2. Đường trung thất trước.
3. Đường cạnh ĐM chủ ngực.
4. Đường cạnh (T) cột sống.
5. Đường cạnh (P) cột sống.
6. Đường cạnh (P) khí quản.
7. Đường cạnh tĩnh mạch chủ trên.
8. Đường cạnh thực quản.

Chia khu vùng trung thất.

S Trên 
M Giữa
I Dưới
1 Trước
2 Giữa
3 Sau





BỆNH LÝ TEO THỰC QUẢN BẨM SINH Ở TRẺ SƠ SINH [XQuang]

đăng 18:35, 13 thg 4, 2014 bởi Hieu Nghia   [ đã cập nhật 18:36, 13 thg 4, 2014 ]

- Teo thực quản là bệnh lý bất thường bẩm sinh thường gặp nhất của thực quản ( 1/ 5000 trẻ sơ sinh )
- Là bệnh cảnh cấp cứu ngoại khoa.
- Có thể kết hợp với các bệnh lý bất thường khác như bất thường cột sống, xương sườn, tim mạch, thận, tay chân,…

I. PHÔI THAI HỌC:

          Từ tuần thứ 4 bào thai hình thành sự nhô ra tạo thành rãnh rọc cửa mặt trước dưới của mầm ruột nguyên thủy. Đây chính là mầm của rãnh hô hấp và nó sẽ tách dần mầm ruột theo hướng đuôi- đầu của hai mào trung mô. Ơ cuối tháng thứ nhất, mầm ruột và hô hấp chỉ còn thông nhau qua lỗ thanh quản.

           Các cơ chế gây ra các dạng bất thường khác nhau của thực quản còn chưa đựơc biết rõ một cách hoàn toàn, nhung do sự bất thường của sự phát triển các mào phân chia khí- thực quản đựơc nghĩ đến.

II.DẠNG CƠ THỂ HỌC

          Dạng thường gặp nhất là túi cùng ở đoạn đầu và đoạn xa dò với khí quản ( III ): 80- 90 %.

          Các dạng khác thì hiếm: teo không có dò (I), teo có dò đoạn đầu (II), teo có dò cả hai đầu, không teo nhưng có dò dạng chữ “ H “.

          Các dạng trong nhóm I và II có khoảng cách giữa hai đầu xa nhau, khoảng 4 thân sống nên việc mỗ ngay khó thực hiện.

          Các dạng III và IV có vị trí hai đầu thường nằm gần nhau.

          Đầu dò phần xa của thực quản trong nhóm III thường dò với khí quản hoặc phế quản gốc bên phải.

          Túi cùng thường nằm trong khoảng D2- D4.

          Dạng dò chữ H có thể nằm ở bất kỳ đoạn nào, nhưng thường nằm cao.

III. CÁC BẤT THƯỜNG KẾT HỢP:

         1. Nhóm VACTERL

-         V (Vertèbre, Vaisseaux) : bất thường về cột sống ( thường nữa thân sống ), bất thường mạch máu.

-         A ( Anorectum ): bất thừơng hậu môn trực tràng.

-         C ( Coeur, Cerveau ) : bất thường tim , não.

-         TE ( Traché, esophagus ) : bất thường khí thực quản.

-         R ( Rein, Rib ) : bất thường thận, xương sườn.

-         L ( Limb, Lung ) : bất thường về chi, phổi ( bất hay thei63u sản phổi, mềm sụn khí quản ).

        CHẨN ĐOÁN :

1.1     Siêu âm tiền sản : có thể đánh giá trong 1/ 3 trường hợp.

o   Đa ối trong dạng không có dò khí thực quản đoạn xa.

o   Không thấy hình ảnh dạ dày trên nhiều lần siêu âm thai.

o   Có thể thấy túi cùng đoạn gần.

1.2     Chẩn đoán lâm sàng : ở trẻ sơ sinh.

·     Sặc , tím tái khi bú.

·     Bụng xẹp hoặc bình thường tùy theo có dò hay không.

·     Không đặt được ống thông vào dạ dày, vào chỉ đựơc khoảng 10 cm từ cung lợi.

·     Các bất thường kết hợp về chi, không hậu môn,…

1.3     Chẩn đoán hình ảnh :

a.      Chụp phim cổ- ngực- bụng không sữa soạn : Góp phần quan trọng trong chân đoán.

Cần đánh giá 

   Bóng khí đọng trong túi cùng thực quản : thuờng nằm trong khoảng D2 –D4

   Vị trí khí quản .

    Vị trí quai động mạch chủ : để chọn bên lồng ngực để đi vào khi mỗ .

    Và nhất là hơi trong dạ dày và ruộtà chứng tỏ có dò đoạn xa thực quản.

    Các bất thường kết hợp

                                    b.   Chụp x quang có chuẩn bị:

Đặt ống thông dạ dày ( loại ống thông cản quang ) : tốt nhất là đặt khi chụp cùng với phim ngực bụng trên, ống thông vào được khoảng 10 cm và nằm cuộn tròn trong túi cùng ngang D2- D4.

Chụp với thuốc cản quang :

      Thuốc cản quang được lựa chọn là loại cản quang iode tan trong nước và thể tích dùng trong giới hạn 1- 2 ml.

       Hình ảnh chẩn đoán rõ, dễ dàng và đôi khi thấy được đường dò. Nhưng đôi khi có nhưng biến chứng cho bệnh nhi nếu không nắm vững kỹ thuật, cũng như không có đủ phương tiện để làm.

Chụp qua ống thông dạ dày kèm bơm hơi : Dễ thực hiện, ít tốn kém, nhưng hình ảnh không tương phản và phụ thuộc nhiều vào chất lượng và kỹ thuật chẩn đoán.

Hình chụp cổ ngực bụng T/ N có ống thông : Túi cùng nằm ngang D3.

Ong thông nằm cuộn trong túi cùng ngang D3 và có dò đầu dưới với khí quản.

Bất thường cung sườn kết hợp.

c.     Siêu âm : Cần thiết để truy tìm các bất thường kết hợp. Siêu âm não xuyên thóp, siêu âm tim, siêu âm bụng để tìm các bất thường về gan, mật, thận,…

          BILAN SAU MỖ : Chụp thực quản cản quang được thực hiện vào ngày thứ 7- 8 sau mỗ. Cần đánh giá :

 -   Vùng nối : hẹp, dò, túi thừa ?

 -    Đánh giá nhu động thực quản ( qua hệ thống soi ).

 -    Vị trí tâm vị, hình thái dạ dày, vị trí khung tá tràng

 -     Trào ngược dạ dày thực quản ?

       -     Mềm sụn khí quản có thể gặp gây triệu chứng suy hô hấp sau mỗ ( do túi cùng chèn ép hoặc do bất thường miệng khí quản).

Chụp thực quản cản quang kiểm tra sau ngày thứ 7 sau mỗ : Hẹp vùng nối.

          DÒ KHÍ – THỰC QUẢN BẨM SINH :

          Là dạng đặc biệt, rất hiếm và thường đựơc chẩn đoán muộn qua triệu chứng lâm sàng như cơn tím tái, ho cơn. Mệt khi bú hay viêm phổi tái phát.

          Chẩn đoán cận lâm sàng thường khó, có thể làm nội soi và chụp thực quản cản quang qua ống thông.

          Chụp thực quản cản quang qua ống thông và dưới hệ thống soi có thể thấy được đường dò nằm chếch lên cao và ra trước, thường ở đoạn cổ ngực.

           Ngoài ra còn có dạng đặc biệt : cửa sỗ thanh khí quản với sự thông rộng đường thở- tiêu hoá. Tiên lượng rất xấu.

Dò dạng chữ « H »  nằm cao trên vùng cổ.

PHÁC ĐỒ CHẨN ĐOÁN VÀ KIỂM TRA TRONG BỆNH LÝ TEO THỰC QUẢN BẨM SINH Ở TRẺ SƠ SINH.

Teo thực quản bẩm sinh ( chẩn đoán tiền sản)

¯

Chẩn đoán lâm sàng.

¯

Chụp phim cổ- ngực- bụng + ống thông dạ dày cản quang.

¯

Siêu âm tổng quát tìm bất thường kết hợp.

¯

Chẩn đoán xác định và định dạng à điều trị ngoại khoa.

¯

Chụp thực quản cản quang kiểm tra vào ngày thứ 7- 8 sau mỗ.

SUY HÔ HẤP SƠ SINH [X QUANG]

đăng 20:15, 9 thg 4, 2014 bởi Hieu Nghia   [ đã cập nhật 20:25, 9 thg 4, 2014 ]

I/ MỞ ĐẦU : Thông thường suy hô hấp sơ sinh được xếp theo các cơ chế sau:

1/ Sự nghẽn tắc thông khí của đường hô hấp trên, gây ra khó thở cao.

2/ Những rối loạn cơ học của bộ máy hô hấp, kết hợp với bất thường hệ điều hành thần kinh hay cơ hô hấp do rối loạn xuất phát từ thần kinh trung ương hay ngoại biên.

3/ Những trở ngại gây khó khăn cho sự giãn nở của phổi do chèn ép bên trong lồng ngực: tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất, phù mô kẽ chèn ép, khí phế thủng lớn, kén khí lớn hay thoát vị hoành,... Trong vài trường hợp, chèn ép phổi do nguyên nhân dưới hoành như u bụng, dịch ổ bụng, ruột chướng hơi...

4/ Bệnh lý chủ mô phổi :

- Xẹp phế nang do bệnh lý màng trong.

- Nghẽn tắc và tràn dịch trong phổi do hít nước ối.

- Suy hô hấp thoáng qua.

- Viêm phổi.

- Xuất huyết phổi.

- Bệnh Wilson và Wikity

- Bệnh do giúp thở.

5/ Một số bệnh lý tim mạch : Đăc biệt do tăng áp suất tĩnh mạch phổi như bất thường tĩnh mạch trở về tim. Các bệnh lý khác như giãn mạch bạch huyết phổi (Lymphangiectasia ) hoặc thiếu máu trầm trọng trong giai đoạn cuối.=

II/ PHÂN TÍCH TRIỆU CHỨNG X QUANG :

1/ Đánh giá tuổi, bên (P), (T), và vị trí các sonde nếu có.

2/ Đánh giá hình ảnh ổ bụng:

            - Hình ảnh và vi trí hơi trong ruột. Chú ý khi thở oxy 100% thì có thể không thấy hơi trong ruột.

            - Trong trường hợp khác nếu mờ hoàn toàn ổ bụng có thể do:

                        + Teo thực quản bẩm sinh không có dò.

                        + Thoát vị hoành với sự di chuyển của ống tiêu hóa vào trong lồng ngực.

 

Hình 1: Suy hô hấp với tổn thương:
mờ dạng phế nang lan tỏa tương ứng với nhiễm Listeriose. Bụng hoàn toàn mờ vì hình ảnh chụp lúc 30 phút sau sinh. Không có nuốt khí.
 

Hình 2: Hình chụp sau sinh 24 giờ.
 Suy hố hấp trung bình. Quá sáng phổi hai bên với mờ phế nang kín đáo. Không có khí trong bụng cho phép chẩn đoán hẹp thực quản không có dò đoạn dưới. Các bất thường phổi chỉ là fausses routes. 

3/ Đánh giá lồng ngực : Tìm:

          - Bất thường xương sườn : xương sườn ngắn, hay thiếu xương sườn.

          - Sự mảnh khảnh (Gracilité) xương sườn: Gây ra loạn sản lồng ngực.

          - Biến dạng lồng ngực: Rất quan trọng. Lồng ngực hẹp trên và phình dưới gây ra hậu quả chức năng hoạt động của cơ.

          - Dày của các phần mềm: Phải được xem xét, dày đối xứng được gây ra bởi một quá tải “ ứ dịch “, ví dụ mẹ bị tiểu đường.

          - Quan sát đánh giá cột sống, xương đòn, xương cánh tay.

4/ Đánh giá bên trong lồng ngực: Được hệ thống theo 5 tính năng:

a/ Mờ toàn lồng ngực: Không có hơi trong lồng ngực, trừ khí quản và phế quản gốc. Thường xảy ra đối với:

- Tràn dịch màng phổi hai bên .

          - Xẹp phổi hai bên: Xẹp phế nang thường do:

                   + Nghẽn tắc đường hô hấp trên hay khí quản là trường hợp cấp cứu khẩn cấp.

                   + Bệnh lý màng trong state IV, cần thiết thở dưới áp lực dương.

                   + Hít phân su lượng nhiều, ít gặp.

                   + Thông thường nhất, dạng này được thấy ở trẻ sơ sinh thở oxy toàn phần, oxy được hấp thu hoàn toàn và không làm giãn chủ mô phổi.

          Thở máy áp lực dương thường cho phép đạt được sự trong sáng chủ mô phổi, tạo sự tương phản khi phân tích triệu chứng tốt hơn.
 

Hình 3: Phim chụp 12 giờ sau sinh. Suy hô hấp được điều trị với thở máy oxy toàn phần. Có ống thông dạ dày, ống nội khí quản, cathéter tĩnh mạch rốn đúng vị trí. Hoàn toàn không có khí trong lống ngực loại trừ khí quản và phế quản chính. Bệnh nhân bị bệnh màng trong giai đoạn IV.
 

Hình 4: Suy hô hấp với di lệch trung thất.Trục của khí quản và ống thông dạ dày bị đẩy lệch qua phải, bóng tim nằm nửa lống ngực bên phải, nhưng vòm hoành bên (P) vẫn thấy rõ và còn một phần nhu mô phổi có thông khí ở góc sườn hoành (P). Thấy một ít hình ảnh mờ mạch máu phổi sau bóng tim. Lồng ngực bên (T) tăng thể tích và tăng thông khí chứng tỏ có tổn thương expansive.

b/ Di lệch trung thất:

          Đánh giá sự di lệch ở trẻ sơ sinh có suy hô hấp rất quan trọng vì hầu hết  suy hô hấp kèm di lệch trung thất là hình ảnh cần điều trị cấp cứu để dẫn lưu dịch màng phổi hoặc cần sự can thiệp ngoại khoa.                   

          Sự di lệch trung thất được nhận biết chủ yếu trên sự di lệch của khí quản. Sự di lệch này thường kèm theo hình ảnh mờ hoặc quá sáng bên đối diện trong trường hợp tràn dịch hoặc tràn khí màng phổi hay khí phế thủng hay thoát vị hoành. Nếu sự di lệch kèm theo mờ cùng bên do co kéo là do xẹp phổi hoàn toàn hoặc bất sản phổi.

          Trong vài trường hợp  khác trung thất nằm đúng vị trí bình thường và nhu mô phổi cũng bình thường nhưng có:            

                   - Sự nâng cao vòm hoành: Hai bên có thể do liệt cơ hoành hoặc bướu ở bụng đẩy vòm hoành lên cao, một bên thường do liệt hay yếu cơ hoành.

                   - Bất thường trung thất.

                             * Nở rộng và biến dạng do u trung thất, bệnh lý tim.

                             * Hẹp và bờ sáng do tràn khí màng phổi 2 bên, tràn khí trung thất...

           
 Hình 5: Phim chụp 24 giờ sau sinh. Suy hô hấp do giảm thể tích phổi. Vòm hoành hai bên bị đẩy lên rất cao do có một khối choán chỗ  trong ổ bụng và các quai ruột bên (T) bị đẩy lên cao.                    

c /  Mờ nhu mô phổi lan tỏa: Là bệnh lý thường thấy nhất trong suy hô hấp sơ sinh. Phân tích hình ảnh chủ mô phổi phải so sánh với thể tích phổi.

          c.1 /  Xóa mờ mạch máu: Giới hạn của mạch máu khó thấy hay biến mất. Đồng dạng hai phế trường, thường gặp trong các trường hợp sau:

                   - Tràn dịch mô kẽ.

                   - Tràn dịch phế nang lượng ít.

                   - Xẹp phế nang không hoàn toàn.

          Phim chụp thì thở ra : Xác định thể tích phổi, cho phép phân biệt tràn dịch hoặc co kéo do xẹp phế nang.

 
 
 

Hình 6: A, hình chụp 3 giờ sau sinh. Mờ hoàn toàn hai phế trường, không giảm thể tích phổi. Đặt ống nội khí quản ra một lượng dịch rất lớn. B, phim chụp 48 giờ sau sinh thấy một khối trong trung thất (P)  và kéo ống thông dạ dày vế bên (P) . C, trên phim nghiêng thấy khối mờ ở phía sau và đẩy ống nội khí quản ra trước. Thực quản đôi chèn ép vào khí quản và cản trở sự tái hấp thu dịch phế nang.
                                                                                                     

        c.2/  Mờ dạng sợi dải:  Là những đường mờ nhỏ, giới hạn rõ, dài và không cùng kích thước lan tỏa trong phổi. Nó có thể được kết hợp  với dày vách được biểu  hiện được bằng đường Kerley.

          Thường thấy trong các trường hợp suy hô hấp thoáng qua, tăng áp lực tĩnh mạch phổi, phù mô kẽ. Dạng này cũng thấy trong hít phân su, chứng Wilson - Milkity và bệnh giúp thở ( Ventilé ).

          Khi hình ảnh này dài, dày và trải dài đều vùng ngoại biên, thường gặp trong xẹp phổi tiểu thùy hoặc dưới phân thùy.

          c.3/  Mờ dạng hạt ( Opacites miliaires ) : Nốt mờ giới hạn rõ giữa những mạng lưới khí ,thường gặp trong viêm phổi mô kẽ.

          c.4 /  Bóng mờ không rõ (Flous): Mờ phế nang lan tỏa, thấy trong bệnh cảnh suy hô hấp thoáng qua, hít nước ối hoặc phân su, xuất huyết phổi, viêm phôi, dò khí-thực quản, tăng áp tĩnh mạch phổi.

Hình 7: Cung đôi động mạch chủ. Suy hô hấp nhẹ A, phim nghiêng thấy khí quản bị đẩy vòng ra phía trước và giảm khẩu kính. B chụp thực quản cản quang xác định hình ảnh chèn ép đôi do cung đôi động mạch chủ. 

 

Hình 8: Mờ chủ mô lan tỏa với mờ  mách máu phổi ( bệnh màng trong giai đoạn I). Mờ hạt lưới khó thấy.
 

Hình 9: Mờ dạng sợi tương ứng với dày vách mô kẽ và dưới màng phổi. Vài bóng mờ dạng sợi thấy rõ. Suy hô hấp do chậm hấp thu dịch phế nang.

                c.5/  Mờ dạng nốt lưới  (Reticulonodulaire): Đặc biệt trong bệnh lý màng trong, thường kèm theo hình ảnh Air bronchogramme, hay giảm thể tích phổi.

Hình 10: Mờ dạng sợi bắt cheó và chồng lên nhau tương ứng với phù mô kẽ chèn ép. Khí nằm trong mô kẽ. Mờ dạng sợi do xẹp chủ mô.     




Hình 11: Mờ dạng sợi do xẹp chủ mô dạng băng (bande ). Các bóng mờ dạng sợi thì rất rộng, trãi dài đến ngoại biên và có hướng dạng tia lan từ rốn phổi. Như các dạng xẹp phổi, sự quá sáng hai bên do nghẽn tắc nhiều tiểu phế quản.


Hình 12: mờ dạng hạt lan toả tương ứng
với phù mô kẽ giai đoạn sớm.


Hình 13
: Mờ phế nang lan tỏa với giới hạn mờ và tập trung. bất đối xứng các tổn thương giữa hai phế trường. Hít nước ối.            
                                                                 
                                                

            c.6/  Thể tích phổi: Đánh giá dựa vào :

          - Hình thẳng :

              *  Vị trí vòm hoành và hình dạng vòm hoành.

              *  Khoảng cách giửa bờ trước khung sườn và đường giữa.

              *  Độ nở rộng của khe liên sườn.  

          - Hình nghiêng :

              *  Hình dạng vòm hoành.

              *  Độ sâu trước - sau của lồng ngực.

          -Giảm thể tích phổi gặp trong:

              *  Xẹp phổi.

              *  Bất hoặc thiểu sản phổi.

              *  Bệnh lý màng trong.

              *  Phù mô kẻ.

          -Thể tích phổi bình thường:

              *  Tăng áp tĩnh mạch phổi.

              *  Xuất huyết phổi.

              *  Nhiễm trùng phổi.

          - Tăng sáng hai bên gặp trong :

              *  Tràn khí màng phổi, khí phế thủng.

              *  Phù phổi kẽ 2 bên do khí.

              *  De Wilson - Milkity.

              *  Giúp thở.

              *  Bệnh tim mạch.

 

KẾT LUẬN : Suy hô hấp ở trẻ sơ sinh là một bệnh cảnh nặng, cần điều trị cấp cứu. Các nguyên nhân có thể được khái quát theo sơ đồ sau đây :

NGUYÊN NHÂN SUY HÔ HẤP Ở TRẺ SƠ SINH:

          *  X QUANG PHỔI BÌNH THƯỜNG:

                   ®  Nguyên nhân thần kinh.

                   ®  Nguyên nhân sinh học.

                   ®  Bệnh đường hô hấp trên.

                   ®  Bệnh trung thất ( khí quản ) ® chụp thực quản cản quang. 

* X QUANG PHỔI BẤT THƯỜNG:

Di lệch trung thất
- Tràn dịch màng phổi
- Phù mô kẻ      
- Thoát vị hoành
- Khí phế thủng thùy lớn
- Bóng khí phế thủng
- Liệt hoành
- Bất sản phổi
- Xẹp phổi

 Bệnh chủ mô phổi
-Suy hô hấp thoáng qua.    
-Bệnh màng trong
-Viêm phổi hít
-Nhiểm trùng
- Xuất huyết phổi
- Wilson - Mikity
- Bệnh do giúp thở.
- Bất thường TM về tim.
- Lymphangiectasie.

CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH TRONG BỆNH LÝ NHIỂM TRÙNG TIỂU TRẺ EM [XQuang]

đăng 19:33, 9 thg 4, 2014 bởi Hieu Nghia   [ đã cập nhật 19:33, 9 thg 4, 2014 ]

1/. Siêu âm:

           - Đánh giá hình thái, cấu trúc siêu âm, kích thước bộ niệu.

           - Các hình ảnh bệnh lý như: thận ứ nước, bất thường bẩm sinh ( thận đa nang, thận đôi, hội chứng khúc nối, thận lạc chỗ,…)

           - Các bệnh lý chủ mô thận : viêm thận- bể thận, áp xe thận,…

           - Bệnh lý viêm bàng quang, túi thừa bàng quang, sạn bàng quang, …

2/. Chụp bàng quang cản quang:

           - Chỉ định: tìm trào ngược bàng quang niệu quản, bệnh lý bàng quang ( bàng quang thần kinh, bàng quang chống đối,..).

Hình ảnh niệu đạo bình thường ở trẻ trai và gái

 

          - Kỹ thuật được thực hiện khi TÌNH TRẠNG NHIỂM TRÙNG TIỂU ĐÃ ĐIỀU TRỊ ỔN ĐỊNH.

          - Khảo sát :

  • Hình thái bàng quang : bàng quang lớn theo trục dọc à bàng quang thần kinh; Bàng quang có thành lồi lõm không đều và dày thành à bàng quang chống đối, túi thừa bàng quang ( túi thừa Ouraque, thúi thừa Hutch ).
  • Trào ngược bàng quang niệu quản: chia làm 5 mức độ:

 


** BÀNG QUANG THẦN KINH: tính chất:

-          Tăng thể tích bàng quang.

-          Bàng quang theo trục dọc.

-          Ứ đọng nứơc tiểu.

-          Giảm trương lực bàng quang.

-          Trào ngược bàng quang niệu quản 2 bên.

-          Bất thường cột sống +/-

** BÀNG QUANG CHỐNG ĐỐI:

-          Thường do van niệu đạo sau.

-          Thành bàng quang dày, bờ lồi lõm không đều.

-          Cổ bàng quang + niệu đạo tiền liệt tuyến tạo dạng hình phểu và có thể thấy bòng van niệu đạo sau.

-          Trào ngược bàng quang niệu quản hai bên.

3/. Chụp bộ niệu cản quang (UIV, IVP ):

            1.1 Chỉ định: khảo sát bộ biệu cản quang.

            1.2 Chống chỉ định: mất nước nặng, suy thận nặng, bệnh đa u tủy, dị ứng thuốc cản quang (sốc phản vệ), cường tuyến giáp trạng.

            1.3 Chuẩn bị bệnh nhân: không cần chuẩn bị (trừ khi bệnh nhi bị táo bón lâu hoặc có nhiều chất cản quang đường ruột), bệnh nhân nhịn đói ít nhất 4 giờ, cho thuốc chống dị ứng nếu có tiền căn dị ứng nặng (theo phác đồ).

            1.4 Đánh giá:

                        - Hính thái, kích thước thận à bờ đều hoặc co khéo, teo thận,…

                        - Hình ảnh ngấm thuốc chủ mô thận (nephrogram) à khuyết hoặc tăng ngấm thuốc khu trú.

                        - Hình dạng đài bể thận: biến dạng, co kéo, gậm nhấm, đẩy lệch, khuyết, nghẽn tắc,…

            1.5 Một số hình ảnh đặc hiệu:

                        - Ổ kém ngấm thuốc dạng tam giác à viêm thận bể thận khu trú.

                        - Ổ tròn không đọng thuốc à nang thận.

                        - Ổ tăng ngấm thuốc à u thận: adenome, buớu mạch- cơ- mỡ,…

                        - Đài thận dạng hoa hồng, hình túi + teo nhỏ nhánh đài thận chung à lao thận.

                        - Dãn khu trú đài thận và co kéo bờ thận đi kèm à xẹo viêm  thận- bể thận mạn.


LỒNG RUỘT CẤP [XQuang]

đăng 21:11, 6 thg 4, 2014 bởi Hieu Nghia   [ đã cập nhật 21:11, 6 thg 4, 2014 ]

Lồng ruột do lồng các quai ruột bên trên vào trong lòng quai ruột bên dưới.

Thường gặp ở trẻ nhỏ ( 80% từ  6 tháng – 2 tuổi), nam nhiều hơn nữ (3 nam 1 nữ ).

Thường không có nguyên nhân hơn 90 %, và có tính chất theo “mùa” .

             Lồng ruột có thể thứ phát ( thường gặp lứa tuổi < 3 tháng hoặc > 5 tuổi ) do các nguyên nhân thực thể và có thể tái phát. Các nguyên nhân thường thấy :

-          Lymphoma đường tiêu hóa

-          Túi thừa Meckel

-          Ruột đôi

-          Adénome hoặc polype

-          Xuất huyết dạng thấp ( Purpura rhumatoide)

-          Rối loạn chức năng sau phẫu thuật.

-          Mucoviscidose.

              Dạng hồi- đại tràng thường gặp nhất và các dạng khác có thể gặp như hồi - hồi tràng, hồi- hồi đại tràng, đại- đại tràng. Chú ý dạng hồi- hồi tràng có thể thoáng qua và tái phát từng đợt gây bệnh cảnh đau bụng mãn tính ở trẻ em.

              Đây là bệnh cảnh cấp cứu trong chẩn đoán và điều trị, chẩn đoán sớm và điều trị sẽ dễ dàng, không biến chứng, nhất là dạng lồng ruột có “cổ rộng”. Chẩn đoán trễ có thể gây tắc mạch đưa đến hoại tử khối lồng và tắc ruột, viêm phúc mạc, …

 

Lâm sàng:

          -    Đau bụng đột ngột kèm ói và có cơn khóc thét.

          -   Tam chứng: đau bụng kịch phát + nôn ói và tiêu máu. Ngày nay ít gặp do đa số được chẩn đoán sớm qua siêu âm.

          -  Có thể có các dạng gây chẩn đoán lầm lẫn: ngộ độc, tiêu chảy, tắc ruột, hay đôi khi có hội chứng khối u (u, viêm)

          -    Khám lâm sàng có thể sờ được khối lồng dưới dạng bầu dục, chắc, thường nằm vùng dưới gan.

Chẩn đoán hình ảnh:

              Phim chụp bụng không sửa soạn tư thế nằm ngữa và đứng nếu cần:

-      Khối mờ vùng dưới gan, có thể có hơi bao quanh một phần.

-      Hình ảnh tập trung các quai ruột non vào vùng dưới gan.

-     Không thấy bóng manh tràng ở vị trí bình thường.

-     Hình ảnh tắc ruột trong giai đoạn trễ, có thể kết hợp phim chụp đứng.


Lồng ruột được chẩn đoán trên phim chụp bụng không sữa soạn ở TƯ THẾ CHỤP NẰM NGỮA, 

và được xác định trên phim chụp đại tràng cản quang.

Siêu âm:

              Khảo sát toàn bộ và tổng quát ổ bụng.

              Hình ảnh đặc trưng của khối lồng:

            - Mặt cắt ngang khối lồng: hình bia hoặc dạng võ củ hành, đường kính thường # 2-3 cm

                   - Mặt cắt dọc khối lồng: dạng hình sandwich hoặc hình giả thận .

              Khi thấy được cấu trúc nhiều lớp hoặc thấy được hình ảnh tưới máu bên trong khối lồng chứng tỏ chưa có biến chứng phù nề và hoại tử khối lồng, tiên lượng điều trị tốt.

              Các dấu hiệu khác:

  • Dãn các quai ruột trên khối lồng.
  • Dịch tự do ổ bụng
  •  Hạch mạc treo hoặc u ruột (polype, adénome)

              Các vấn đề siêu âm:

   Dạng hồi- hồi tràng đôi khi bỏ xót do khối lồng nhỏ và di động.

    Chẩn đoán đôi khi khó khăn do kèm các bệnh cảnh khác như bệnh viêm đường hô hấp, tiêu chảy, viêm dãn thành ruột khu trú,…

   Giai đoạn trễ có biến chứng bán tắc hoặc tắc ruột gây khó khăn cho chẩn đoán siêu âm do có nhiều hơi trong các quai ruột.

              Trong các trường hợp nghi ngờ cần kết hợp với chụp đại tràng cản quang ( thuốc cản quang hoặc hơi) hoặc CT ổ bụng.

              Chụp đại tràng cản quang:

Chống chỉ định:  tình trạng sốc, dấu viêm phúc mạc.

Ø      Khi bệnh cảnh lâm sàng hơn 48 giờ thì cần dè dặt (cần khảo sát siêu âm trước).

Ø      Kỹ thuật được thực hiện theo từng trường phái: bơm hơi hoặc thuốc cản quang tan trong nước nồng độ thấp hoặc baryte.

Ø      Nguy cơ thủng # 1/ 1000.

Ø      Bơm hơi và thuốc cản quang qua ống thông trực tràng với áp lực từ 100 – 120 mmHg  ( độ cao 1,2 mm) và theo dõi trên máy soi.

              Các dạng khối lồng: Hình dạng càng cua hoặc hình đáy chai, nằm ở đại tràng ngang dưới gan trong đa số trường hợp.

CT ổ bụng:

              Chỉ được chỉ định khi tối cần thiết và nghi ngờ với các bệnh khác.

              Khối mờ đậm độ mô thấy được với các mặt cắt vùng dưới gan và bắt thuốc cản quang trong các thành, thấy rõ được cấu trúc từng lớp của khối lồng

Điều trị:

              Có rất nhiều trường phái trong điều trị khối lồng: Tháo lồng bằng hơi hoặc thuốc cản quang dưới màng soi, tháo lồng bằng nước dưới hướng dẫn của siêu âm.

              Phương pháp tháo lồng được thực hiện tại phòng mổ với tháo lồng bằng hơi sau khi được gây mê nhẹ dưới áp lực từ 100 – 120 mmHg có nhiều ưu điểm:

              Bệnh nhân được gây mê “thư giản” hoàn toàn nên tránh được tăng áp lực trong ổ bụng khi tháo.

              Giảm được sự co thắt của ruột làm tiến trình tháo lồng dễ dàng hơn.

              Tiến trình điều trị được đánh giá trên sự giảm áp lực dần dần trên dụng cụ  tháo lồng.

              Bệnh nhi được kiễm tra qua siêu âm sau khi đã hồi tỉnh.

Vấn đề kiểm tra siêu âm sau tháo lồng bằng hơi:

              Hơi còn nhiều trong các quai ruột có thể gây trở ngại nếu còn lồng hồi – hồi tràng.

              Phù nề vùng manh tràng – van Bauhin có hình ảnh giống như khối lồng --> cần theo dõi để xác định.

              Trường hợp tồn tại khối lồng trên siêu âm và đánh giá thất bại trong quá trình tháo thì thường do nguyên nhân thực thể hoặc do khối lồng phù nề (nhất là dạng “ cổ nhỏ” thì cần can thiệp ngoại khoa).

CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH LAO PHỔI TRẺ EM [X Quang]

đăng 21:03, 6 thg 4, 2014 bởi Hieu Nghia   [ đã cập nhật 21:03, 6 thg 4, 2014 ]

1/. Lao sơ nhiểm: Có các dạng

-          Hình ảnh X quang phổi bình thường.

-          Hạch rốn phổi 1 hoặc 2 bên hoặc cả hai hoặc hạch vùng cạnh (P) khí quản.

-          Phức hợp lao sơ nhiểm = đám mờ thâm nhiểm chủ mô phổi + dãi mờ nối lền với hạch rốn phổi (dạng hình quả tạ ).

-          Tràn dịch màng phổi đơn thuần, nhất là phổi (T).

 
Tràn dịch màng phổi (T).
 
Đông đặc thuỳ dưới (T)


Tổn thương dạng hạt nốt lan toả

 

Viêm phổi thùy






Tổn thương dạng hạt nốt lan toả
 

2/. Viêm phổi lao:

-          Thường ở thùy trên, thùy giữa và phân thùy Nelson(Fowler ).

-          Tổn thương dạng đông đặc thùy và diễn tiến hang hoá khi khạc chất bả đậu.

-          Có thể kèm tràn dịch màng phổi hoặc hạch trung thất.

 
Đông đặc thuỳ- phân thùy

 
Hang hoá và hạch rốn phổi
 
Tổn thương dạng nốt dưới đòn (P)

 
Đông đặc phân thùy

3/. Lao kê:

          -   Là biến chứng sau lao sơ nhiểm hoặc lao hoạt tính lan theo đường máu.

            - Tổn thương mô kẽ dạng hạt đều 2 phế trường, có thể kèm hạch rốn phổi.

            - Có khả năng kèm theo viêm màng não.

4/. U lao:  Khối u thường to, khá đồng nhất và có thể có vôi hoá bên trong.

U hạt lao ( tuberculoma)

BỆNH HỌC X QUANG PHỔI TRẺ EM - P3 [X Quang]

đăng 20:38, 6 thg 4, 2014 bởi Hieu Nghia   [ đã cập nhật 20:39, 6 thg 4, 2014 ]

VIII/. Ap xe phổi:

-          Trước khi khạc mũ : hình ảnh mờ đông đặc, bờ không rõ

-          Sau khạc mủ : mức định khí dịch, thành hơn dày, mặt trong đều

      Abcès phổi không nguyên nhân à nội so tìm nguyên nhân.

Abscess thuỳ giữa (P) trên phim chụp tư thế chếch

IX/ Viêm phổi hít : Mendelson: Mờ dạng phế nang hai đáy phổi.

Viêm phổi hít diễn tiến dần dần sau 24 giờ


X/. Tràn dịch màng phổi

-          Lượng ít : mờ góc sườn hoành

-          Lượng vừa – nhiều : mờ đặc, đường cong Damorseau, đẩy trung thất sang bên đối diện, dãn rộng cung sườn.

-          Khu trú :         Rãnh liên thùy: dạng hình thoi.     Dưới phổi : mức dịch nằm ngang trên hoành, tăng chiều cao giữa hai vòm hoành hoặc tăng chiều cao giữa hoành và bóng hơi dạ dày.

XI/. Tràn khí màng phổi.

-          Dãy quá sáng dọc thành ngực, không thấy cấu trúc chủ mô phổi, thấy rõ thì thở ra, tăng sâu góc sườn hoành.

-          Đẩy trung thất và hoành.

-          Dãn rộng cung sườn.

XII/ Xẹp phổi:

-          Mờ đồng nhất hoặc không.

-          Co kéo xung quanh.

-          Nguyên nhân do tắc phế quản hoặc thiểu sản phổi hoặc bất sản phổi

XIII/. Di vật đường thở:

-          Viêm phổi tái phát.

-          Suy hố hấp cấp.

-          Xẹp thùy – phân thùy phổi hoặc khí phế thủng.

-          Chụp hai thì hô hấp để so sánh.

XIV/. Bệnh lý đặc hiệu.

1/ Viêm phổi hít phân su: bệnh phổi trần trọng, sớm và tái phátà suy hô hấp – thường kèm tắc một phân su

 Xquang :  -    căng lồng ngực

-          Bất thường phế quản: đường rày xe lữa, mờ dạng lưới hay dạng nốt, hay dãn phế quản.

-          Xẹp thùy hoặc phân thùy.

-          Tràn khí lồng ngực (±).

Viêm phổi hít phân su

XV/. Bệnh lý màng trong : ( Membrane hyaline)

Hạt nhỏ lan tỏa hai phổi, khí quản đồ (+), che mờ bóng tim và vòm hoành. Luôn luôn kèm tim to.

BỆNH HỌC X QUANG PHỔI TRẺ EM - P2 [X Quang]

đăng 20:28, 6 thg 4, 2014 bởi Hieu Nghia   [ đã cập nhật 20:39, 6 thg 4, 2014 ]

VI / Viêm phổi thùy:

- Hội chứng phế nang chiếm toàn bộ phân thùy hoặc toàn bộ thùy, bờ là rãnh liên thùy.

- Khí quản đồ [Bronchogramme ] (+) hoặc phế nang đồ [Alvéologramme] (+)

-  Streptococcus pneumoniae ( Pneumococcus) : thông thường nhất, trẻ > 5 tuổi, thường 1 thùy ( giữa, trên, dưới), ít khi hang hoá, hiếm tràn dịch màng phổi.


Streptococcus pyogènes : thường ở trẻ sơ sinh, thường ở thùy đưới, luôn luôn kết hợp vơi tràn dịch màng phổi.

Viêm phổi do Beta hemolytic Streptococcus và có tràn mũ vách hoá màng phổi.

Viêm phổi thuỳ trên (P) và tràn dịch màng phổi (P) do Beta Hemolytic Streptococcus


 - Klebsiella pneumoniae : thông thường nhiều thùy, tăng thể tích thùy hoặc phân thùy à phồng rãnh liên thùy, hang hóa .
Viêm phổi thùy và tràn dịch màng phổi do Klebsiella

 Staphylococcus aureus : áp xe hoá nhanh chóng, 40% - 60% à pneumotocèle, thường tràn mủ tràn khí màng phổi. Diễn tiến nhanh sau vài giờ.  Nhiều ổ abcès nhỏ rãi rác 2 phế trường nếu lây nhiễm theo đường máu và viêm phổi thùy nếu theo đường hô hấp

 Viêm phổi tụ cầu có tràn khí tràn mủ màng phổi.

VII/ Viêm phổi khác:

-  Mycoplasma: trung gian giữa virus và vi trùng thường 6-16tuổi. X quang không đặc hiệu : nhiều bóng mờ đặc hai đáy phổi, tràn dịch màng phổi ít, thâm nhiễm quanh hai rốn phốn.

Viêm phổi thùy trên (T) do Mycoplasma

Viêm phổi thùy dưới (P) do Mycoplasma.

Xem phần tiếp theo

BỆNH HỌC X QUANG PHỔI TRẺ EM - P1 [X Quang]

đăng 20:06, 6 thg 4, 2014 bởi Hieu Nghia   [ đã cập nhật 20:30, 6 thg 4, 2014 ]

I/ Viêm phế quản

-          Hình ảnh dày thành phế quản dạng đường ray (En rail) ở vùng quanh rốn phổi và hai đáy phổi.

-          Xoá mờ các mạch máu phổi .

-          Đôi khi nhiều bóng mờ khu trú bờ không rõ hoặc xẹp phổi hình đĩa (En plaque)

Viêm phế quản mãn : Đường ray rõ với dày thành phế quản, bờ không đều, phản ứng viêm mô kẻ quanh phế quản – mạch máu.

 Dãn phế quản ( DDB): sau nhiễm trùng đường hô hấp nhiều lần hoặc bẩm sinh hoặc dị vật đường thở hoặc viêm phổi hít.

Hình ảnh x quang có dạng hình trụ hoặc hình chuổi, túi à mờ dạng lưới hoặc dạng tổ ong vùng đáy phổi. Có khẩu kính lớn hơn mạch máu đi kèm.

Dãn phế quản khu trú thường biểu hiện bệnh phổi tái phát nhiều lần.

Dãn phế quản dược chẩn đoán xác định trên chụp cắt lớp điện toán phổi.

Thể tích phổi tăng nhẹ hai bên, phản ứng viêm quanh hai rốn phổi với hình ảnh xoá mờ ranh giới giữa các mạch máu và có hình ảnh dày thành phế quản.

Tuyến ức lớn thùy (P).

II/ Viêm tiểu phế quản (Bron chiolite)

-     Thường < 3 tuổi, do VRS

-        Tăng rộng hai phế trường và quá sáng do tăng thông khí, nhất là khi có hình ảnh quá sáng từng vùng à vòm hoành dẹt, tăng đường kính trước sau lồng ngực. Không thay đổi hình ảnh trên phim thở ra, không có bóng mờ bất thường.

-          Biến chứng có thể đi đến viêm tiểu phế quản tắc nghẽn hoặc bội nhiểm vi trùng thuờng à xuất hiện hình ảnh động đặc phế nang phổ

Thể tích phổi bung rộng, quá sáng 2 phế trường kèm hội chứng phế quản.


III/ Viêm phổi kẻ:

Mờ dạng lưới, sơi hay nốt à mờ quanh hai rốn phổi, bờ sắc, không tập trung,  không có hình ảnh khí quản đồ, không  liên quan mạch máu và phế quản, tiến triển chậm. Thông thường do: lao, nấm, bệnh lý tự miễn, histiocytose X, di căn, lymphangiome carcinomateuse.

Tổn thương mô kẽ quanh hai rốn phổi và hội chứng phế nang kèm hình ảnh khí quản đồ nàm sau bóng tim (T).



IV/ Viêm phổi phế nang do virus:

Dạng viêm phổi phế nang, với nhiều nốt mờ, không hệ thống, thường ở hai đáy phổi,  diễn tiến trên x quang chậm hơn lâm sàng, thường sau 21 ngày. Thường do adenovirus.  Đôi khi, có dạng phù lan tỏa tương tự phù phổi cấp.



V/ Lao :

1/. Lao sơ nhiễm:

-          Bình thường.

-          Hạch rốn phổi – cạnh khí quản

-          Tổn thương sơ nhiễm + hạch à phức hợp lao sơ nhiểm hình “quả tạ “

2/. Lao kê: hạt mịn đến khắp hai phế trường.

3/. Tràn dịch màng phổi thanh tơ huyết.

4/.Tổn thương chủ mô phổi:

-          Thâm nhiễm dạng nốt, sợi hai đỉnh phổi.

-          Viêm phổi thùy trên, phân thuỳ Nelson, hoặc thùygiữa

-          Tổn thương dạng nang hoặc u lao (tuberculome).

Viêm phổi thùy trên (T) kèm theo hạch trung that à viêm phổi lao

Lao kê với tổn thong dạng  hạt lan toả hai phế trường. 


BỆNH LÝ ĐƯỜNG MẬT Ở TRẺ EM [XQuang]

đăng 19:18, 6 thg 4, 2014 bởi Hieu Nghia   [ đã cập nhật 19:20, 6 thg 4, 2014 ]

Chia 3 nhóm:

§      Tổn thương ngoàigan

§      Tổn thương trong gan

§      Tổn thương cả hai

1. Tổn thương ngoài gan:

1.1 Nang ống mật chủ (OMC):

§      Nang bẩm sinh của OMC

§      1/13000 trẻ sơ sinh ( 80% nữ )

§      Tắc mật ngoài gan

§      Do bất thường đoạn chung mật – tụy, dài # 1,5 cm. Bất  thường nằm trên  cơ vòng chung --> trào ngược dịch tụy trong đường mật -- > tăng amylase và lypase à loạn sản thành OMC -- > dãn

§      Lâm sàng: Tam chứng:

o   U tụy

o   Đau bụng

o   Vàng da


Ngày nay, do được chẩn đoán sớm qua echo tiền sản hoặc ở trẻ sơ sinh nên không còn thấy được tam chứng cổ điển trên, 60% được chẩn đoán trước 10 tuổi.

Có thể biểu hiện của bệnh cảnh viêm tụy cấp do biến chứng.

Các biến chứng khác:

  •      Sỏi mật
  •      Viêm đường mật
  •      Viêm PM mật
  •      Xơ gan ứ mật thứ phát
  •      Có thể có K thành nang ở người trẻ.

Chẩn đoán: dãn một hay nhiều nang của OMC hoặc kèm hoặc dãn đường mật trong gan ( bệnh Caroli).

Các dạng u nang OMC:



Nang ống mật trong gan : bệnh Caroli

Các dạng biến chứng: nhiễm trùng đường mật, sạn đường mật, viêm phúc mạc mật, viêm tụy cấp.

Có thể chụp IRM trong các trường hợp khó chẩn đoán.

Chẩn đoán phân biệt:

- Teo đường mật bẩm sinh dạng nang

- Dãn đường mật thứ phát sau nhiễm trùng đường mật hoặc sạn ở trẻ lớn.

- Tá tràng đôi

        1.2 Điều trị:  Phẫu thuật: cắt nang và nối với đường tiêu hoá.

2. Tổn thương trong gan:

** TEO  ĐƯỜNG MẬT:

2.1 Tần suất và giả thuyết bệnh sinh:

1/8000 – 1/10000 trẻ sơ sinh. 4 –5 lần cao hơn ở vùng Thái bình dương và Ấn độ dương

Nguyên nhân không rõ.

10 – 20 % kết hợp với các hội chứng bất thường khác, xảy ra sớm tuần thứ 5 – 6 bào thai.

Định nghĩa: Teo đường mật được xem như do nghẽn tắc một phần hoặc  hoàn toàn đường mật ngoài gan và có bất thường đường mật trong gan.

Dạng cơ thể học:

- Teo hoàn toàn.

- Thấy được túi mật

- Túi mật và OMC thấy được do teo ống gan chung.

§      8% tạo dạng nang từ 0,2 – 4 cm đường kính.

§      Các bất thường khác: đảo ngược phủ tạng, đa lách, TM cửa nằm trước tá tràng, bất thường tĩnh mạch chủ dưới, mạc treo chung.


2.2 Chẩn đoán:

80% được dựa trên chẩn đoán lâm sàngvới bệnh cảnh vàng da, phân bạc màu, gan to.

Khảo sát tổng thể (bilan) sinh học cho phép xác định các nguyên nhân ở trẻ sơ sinh là teo đường mật, thiếu alpha 1 antitrypsine và mucoviscidose.

Siêu âm:

80% không thấy được túi mật khi nhịn đói hoặc túi mật rất nhỏ và có hồi âm day bao xung quanh. Nhưng c01 20 % thấy được túi mật trong teo đường mật.

            Có thế có dãn đương mật tuỳ theo dạng cơ thể bệnh học.

            Các bất thường kết hợp.

§      Chọc dò sinh thiết gan: Xác định cơ thể bệnh học.

§      Xạ hình đường mật.

§      Chụp cộng hưởng từ đường mật.

§      Chụp đường mật và túi mật xuyên gan qua da.

§      Đều trị: Mục đích tạo sự thông nối mật ruột.

            Phẩu thuật Kasai.

 






1-10 of 11